Page 53 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 53

Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Vùng ven biển ĐBSCL từng được bao
          phủ bởi hệ sinh thái rừng ngập mặn, nay đang đối mặt với nguy cơ suy giảm
          nghiêm trọng. Những khu rừng này, thường xuất hiện trên các bãi triều, đầm
          lầy ven biển, chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều lên xuống theo chu kỳ
          ngắn, với nguồn nước lợ - mặn. Trước đây, dải rừng ngập mặn trải dài liên
          tục từ Vũng Tàu đến Hà Tiên, tạo thành bức tường chắn vững chắc bảo vệ bờ
          biển. Đặc biệt, tại khu vực hướng ra biển Đông, do ảnh hưởng của triều cường,
          rừng ngập mặn có thể len sâu vào nội địa, tạo thành một hệ sinh thái đa dạng
          và phong phú.

               Hệ sinh thái đầm nội địa (rừng Tràm): Rừng tràm rất quan trọng đối
          với việc ổn định đất, thủy văn và bảo tồn các loài vật. Rừng tràm thích hợp
          nhất cho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất không phù hợp
          đối với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và đất phèn nặng.
          Rừng tràm hình thành và tiến hóa theo 02 kiểu diễn thế: diễn thế nguyên sinh
          và diễn thế thứ sinh.

               Hệ sinh thái cửa sông: Cửa sông là nơi nước ngọt từ sông chảy ra biển,
          chúng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các thủy triều và sự pha trộn giữa nước
          mặn và nước ngọt, là hóa - lý - sinh học biến động nhanh theo không gian hay
          thời gian tùy thuộc chế độ thoát nước từ nội địa và dòng chảy từ biển vào theo
          thủy triều. Hệ sinh thái cửa sông nằm trong số các hệ sinh thái phong phú và
          năng động nhất thế giới. Tuy nhiên, chúng dễ bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi
          trường và do các thay đổi của chế độ nước (nhiệt độ, độ mặn, lượng phù sa…),
          những yếu tố đó có thể phá vỡ hệ sinh thái này. Thêm vào đó, nhiều loài tôm
          cá ở ĐBSCL là những loài phụ thuộc vào cửa sông. Mô hình di cư và sinh
          sản của các loài này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ sông và thủy triều,
          phụ thuộc rất nhiều vào môi trường của cửa sông (Quang, 1981).

               Minh (2022) cho rằng quản lý thích ứng là yếu tố then chốt trong hành
          trình bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học. Đối với ĐBSCL, việc
          áp dụng quản lý thích ứng trong năm lĩnh vực cụ thể đóng vai trò quan trọng.
          Thứ nhất, việc giữ nước trong kênh rạch là biện pháp hiệu quả để phòng ngừa
          cháy rừng tràm và đầm lầy than bùn trong mùa khô hạn. Thứ hai, kiểm soát
          cháy rừng quy mô nhỏ trong mùa khô là điều cần thiết để duy trì sự đa dạng
          sinh học, đồng thời thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây rừng, góp phần
          bảo đảm sự bền vững về cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái. Thứ ba, duy
          trì hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là các dải rừng phòng hộ ven biển bao gồm
          rừng ngập mặn, rừng phi lao, bãi cát, cùng các loài cây thân thảo như muống
          biển, sam biển, cỏ, nhằm hạn chế xói lở bờ biển và quản lý bền vững hệ sinh

                                                                                 27
   48   49   50   51   52   53   54   55   56   57   58