Page 58 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 58
Sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam, các sử sách Trung Quốc đã ghi
nhận sự xuất hiện của danh từ "Thuỷ Chân Lạp", ám chỉ phần lãnh thổ của Phù
Nam trên vùng đất Nam Bộ. Thuật ngữ này được dùng để phân biệt với "Lục
Chân Lạp", chỉ vùng đất gốc của Chân Lạp (Diều, 2014). Từ khi vương quốc
Phù Nam sụp đổ vào thế kỉ VII cho đến thế kỉ XVI, người Khmer đã trở thành
chủ nhân của vùng đất miền Tây và một phần miền Đông Nam Bộ, lan rộng
đến khu vực sông Bến Nghé. Cư dân chủ yếu tập trung sinh sống ở các vùng
đất cao, rải rác (Thịnh, 2013). Trong khi đó, lưu vực sông Đồng Nai lại là nơi
cư ngụ của một số dân tộc ít người trên các vùng đồi núi. Do dân cư thưa thớt
và trình độ kỹ thuật hạn chế, việc khai phá đất đai gặp nhiều khó khăn. Cho
đến thế kỉ XIII, XVI, XVII, vùng đất này vẫn là vùng hoang vu, chưa được
khai hoang nhiều, bất chấp thời kỳ hoàng kim của Angkor trong thế kỷ XIII
với những công trình kiến trúc đồ sộ như đền Angkor Vat và chùa Bayon.
Trong khoảng thời gian từ năm 627 đến 649, vương quốc Chân Lạp đã thôn
tính Phù Nam. Tuy nhiên, sau khi chiếm lĩnh, Chân Lạp lại rút lui về vùng cao
nguyên Biển Hồ, nơi khai sinh bộ lạc Cha. Lý do là bởi người Chân Lạp không
quen thuộc với kinh tế biển và không biết canh tác ruộng thấp. Điều này khiến
Nam Bộ bị bỏ hoang suốt nhiều thế kỷ, cho đến thế kỷ XVII. Nguyên nhân
chủ yếu là do dân số ít và thiếu kinh nghiệm canh tác ruộng trũng, dẫn đến xu
hướng phát triển của người Chân Lạp hướng về phía Tây Nam.
Bước sang thế kỷ XVII, bức tranh nhân khẩu vùng đất này đã chuyển
mình ngoạn mục. Làn sóng người Việt đổ về, tạo nên một biến đổi sâu sắc về
văn hóa và xã hội. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ cuộc sống
khốn khó, cơ cực của tầng lớp nông dân và thợ thủ công nghèo ở các tỉnh phía
Bắc. Chiến tranh tàn phá, ách áp bức của giai cấp phong kiến khiến họ phải
rời bỏ quê hương, khăn gói vào Nam tìm kiếm cơ hội mưu sinh.
Năm 1751, Nguyễn Cư Trinh đau xót thuật lại thực trạng đói khổ của
dân chúng Quảng Nghĩa trong một bức thư dâng lên Chúa Nguyễn Phúc
Khoát. Thực trạng này phản ánh bức tranh chung của các vùng đất thuộc xứ
Đàng Trong. Sử sách ghi nhận thời Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648),
nạn hạn hán và đói kém hoành hành, khiến dân chúng phải lưu lạc, chết đói
vô số. Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1775), Thuận Hóa cũng
phải gánh chịu những năm mất mùa, đói kém liên tiếp.
Sự xuất hiện của lớp người nông dân nghèo khổ, thất sở chính là động
lực thúc đẩy làn sóng di cư vào Đồng Nai - Gia Định, vùng đất được mệnh
danh là "vựa lúa" với đất đai màu mỡ, rộng lớn, chờ đợi bàn tay khai phá.
Ngoài số nông dân nghèo, còn phải kể đến những người trốn tránh bệnh dịch,
32

