Page 61 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 61

được chúa Nguyễn đưa về để lên ngôi, Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long
          (vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, nay là Sa Đéc và Châu Đốc) cùng năm phủ
          Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh cho chúa Nguyễn. Sự
          kiện này đánh dấu sự hoàn tất cơ bản việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn
          tại Nam Bộ. Trong khoảng thời gian giữa thế kỷ XVIII, một lượng lớn người
          Chăm từ Lovek (Chân Lạp), nơi họ phải tản cư vào cuối thế kỷ XVII, di cư
          về định cư tại núi Bà Đen, góp phần làm đa dạng thêm bản sắc văn hóa của
          vùng đất Nam Bộ.

               Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, một dạng làng mạc mới xuất hiện: những
          làng đồn điền. Để thúc đẩy khai hoang nhằm gia tăng thuế đinh và thuế điền,
          triều Nguyễn không chỉ khuyến khích người dân lập ấp mà còn khuyến khích
          họ thành lập các đồn điền. Trong những đồn điền này, dân chúng tập trung
          sinh sống theo chế độ bán quân sự, phục vụ cho công việc canh tác. Sau khi
          đạt được kết quả trong việc cày cấy, những đồn điền này được chuyển đổi
          thành ấp với ấp trưởng được quản lý theo quy chế dân sự. Do dân số tăng
          trưởng nhanh chóng, số lượng thôn, ấp cũng phát triển theo, trở thành hình
          thức định cư và sinh hoạt phổ biến của người dân di cư vào thời điểm đó.

               Trong  thế  kỷ  XVII-XVIII,  dòng  người  Việt  Nam  di  cư  vào  vùng
          ĐBSCL đã góp phần khai phá vùng đất màu mỡ nhưng hoang vu, đối mặt với
          vô vàn khó khăn. Từ miền Trung, miền Bắc, họ đến khai khẩn vùng châu thổ
          nhiệt đới gió mùa, tạo nên nét sinh hoạt độc đáo của vùng đất mới. Điều kiện
          môi trường sông nước, sản xuất lúa nước và nhu cầu đi lại buôn bán đã định
          hình phong cách nhà ở của cư dân đồng bằng châu thổ, gắn liền với kênh rạch
          và đồng ruộng, phương tiện di chuyển là ghe, xuồng. Từ lâu, vùng đất này
          được tôn vinh là "nền văn minh kênh rạch" hay "nền văn minh sông nước".
          Mối quan hệ chặt chẽ giữa cư trú và kênh rạch đã tạo nên mô hình cư trú theo
          tuyến, mang đặc trưng kết cấu mở theo không gian. Trong hành trình khai phá
          vùng đất mới, những cư dân đầu tiên thường ưu tiên chọn lựa những địa điểm
          ven sông. Việc này mang lại lợi ích thiết thực, từ việc thuận tiện di chuyển,
          khai thác nguồn lợi thủy sản, đến việc đảm bảo nguồn nước ngọt cho nhu cầu
          sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, yếu tố giao thông đường thủy cũng đóng
          vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân thời bấy giờ. Do vậy, sự
          hiện diện của những dòng sông, kênh rạch đã góp phần tạo nên một nét đặc
          trưng riêng biệt của vùng ĐBSCL – hình thái cư trú tuyến tính, gắn liền với
          sông nước. Đặc trưng thứ hai của hoạt động cư trú truyền thống ở ĐBSCL là
          sự cởi mở, trái ngược với tính khép kín của các làng xã vùng đồng bằng sông
          Hồng. Tại đồng bằng sông Hồng, mỗi làng là một đơn vị cư trú biệt lập, được


                                                                                 35
   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65   66