Page 51 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 51
tỷ lệ đáng kể từ 20 đến 60%. Mặc dù giàu lưu huỳnh, đất lại thiếu hụt lân và
kali. Một phần diện tích đáng kể của đất hữu cơ này đã bị nhiễm phèn. Tuy
độ phì nhiêu tương đối cao nhưng kết cấu đất lại quá xốp, chỉ thích hợp cho
những loài cây có bộ rễ nông như cải bắp, ớt, hành, gừng, các loại đậu, dưa
chuột, rau cải và mía. Việc trồng lúa gặp khó khăn do đất quá màu mỡ, dẫn
đến hiện tượng lốp. Chính vì thế, nông dân chỉ canh tác lúa ở vùng ven kênh
rạch để hạn chế ảnh hưởng của phèn. Ở những khu vực ngập nước quanh năm,
quá trình phân hủy chất hữu cơ bị cản trở, dẫn đến tích lũy độc tố gây hại cho
cây trồng.
Hai là, đất xám bạc màu: có gặp ở một số nơi phía Tây Bắc tỉnh Long
An, phía Tây của Đồng Tháp và ở khu Bảy Núi (An Giang). Đất có lớp trên
mặt màu xám trắng, nghèo sét, nghèo các chất dinh dưỡng các loại. Quá trình
rửa trôi theo chiều thẳng đứng và theo chiều ngang là quá trình thống trị vì
vậy đất bị mất màu. Nguyên nhân là do hoạt động cách tác không hợp lý của
con người chủ yếu là do trồng rẫy. Việc cải tạo đất bạc màu không phải vấn
đề khó: do đất nghèo nên việc bón thêm ít phân vào cũng cho năng suất cao
hơn trước, nhưng việc thực hiện phải theo đúng kỹ thuật.
Ba là, đất đồi núi: phân bổ ở vùng núi Thất Sơn (An Giang), Hà Tiên,
Phú Quốc (Kiên Giang). Những địa bàn này cần phải bảo vệ rừng và trồng lại
những rừng nhằm bảo vệ và cải tạo đất, nhất là những sườn dốc, đầu nguồn.
Vùng ĐBSCL sau bao đời khai phá và cải tạo, hiện đang dành hơn
2.700.000 ha diện tích cho hoạt động nông nghiệp. Trong đó, 400.000 ha mặt
nước được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và 2.300.000 ha đất được dành
cho trồng trọt. Dẫu vậy, cần lưu tâm rằng, ngay từ năm 1930, dưới thời Pháp
thuộc, diện tích đất trồng trọt đã lên tới 2.443.000 ha. Điều này cho thấy, mặc
dù những nỗ lực khai hoang đã mang lại thành quả đáng kể trong việc mở
rộng diện tích canh tác, nhưng diện tích đất nông nghiệp thực tế lại không
tăng mà giảm. Nguyên nhân chính là do diện tích đất khai phá mới không đủ
để bù đắp cho diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi thành đất xây dựng cơ
bản và đất thổ cư. Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp trong vùng tiếp tục bị
thu hẹp với tốc độ đáng báo động do tác động của đô thị hóa, phát triển cơ sở
hạ tầng và gia tăng dân số. Trong khi đó, nguồn quỹ đất hoang có tiềm năng
khai thác để phục vụ nông nghiệp hiện chỉ còn khoảng 200.000 ha, phần lớn
là đất phèn, đất mặn, đòi hỏi đầu tư lớn nhưng hiệu quả mang lại thấp. Điều
này đặt vùng ĐBSCL trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên đất nông nghiệp, một
thực trạng đáng lo ngại trên vùng đất được xem là rộng lớn và màu mỡ bậc
nhất của Việt Nam.
25

