Page 71 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 71
mang dáng vẻ thoáng đãng, cởi mở. Hệ thống làng xã và dân cư không bị gò
bó bởi những quy định khắt khe, không phân biệt người bản địa hay người di
cư. Cây tre, biểu tượng của làng xã, ở đây chỉ đóng vai trò là ranh giới giữa
các ấp, không còn là biểu tượng của sự khép kín như ở Bắc Bộ.
Nét đặc trưng của kiến trúc nhà ở ở ĐBSCL thể hiện rõ nét trong cách
bố trí, thường chọn vị trí trên đất cao như giồng, gò, đồi, hoặc dọc theo các
dòng sông rạch. Việc này vừa thuận tiện cho việc sản xuất, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động mua bán. Tập quán cư trú của người dân nơi đây
mang đậm dấu ấn của tinh thần cộng đồng. Họ là những người cùng chung
chí hướng, tìm đến vùng đất mới để lập nghiệp, vì thế, họ sống nương tựa lẫn
nhau, cùng giúp đỡ trong lúc khó khăn. Do đó, các khu dân cư thường tập
trung đông đúc, không có sự phân chia ranh giới rõ ràng giữa các làng xóm.
Nhà cửa cũng phản ánh lối sống gần gũi, đơn giản. Ranh giới giữa các ngôi
nhà có thể chỉ là một con đường mòn nhỏ, hoặc một con mương. Những hàng
rào, nếu có, cũng chỉ mang tính chất tượng trưng, thể hiện sự phân chia ranh
giới một cách mơ hồ. Cổng nhà cũng được thiết kế đơn giản, phục vụ mục
đích trang trí hoặc chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, thể hiện rõ nét sự gần gũi,
cởi mở trong lối sống của người dân vùng sông nước (Diều, 2016).
Nét độc đáo của cấu trúc làng xã vùng ĐBSCL được hình thành từ sự
tác động mạnh mẽ của thiên nhiên. Không giống với làng xã Bắc Bộ, nơi đây
không có sự phân chia rõ ràng về ranh giới làng bởi chính địa hình thiên nhiên
đã tạo nên sự phân định tự nhiên. Các miệt vườn, miệt thứ, cùng với hệ thống
sông ngòi đã đóng vai trò là ranh giới tự nhiên, phân tách làng xã, tạo nên
những nét độc đáo riêng biệt. Do đó, có thể khẳng định rằng chính thiên nhiên
là yếu tố quyết định cấu trúc làng xã vùng ĐBSCL mang nét mở, khác biệt
(Diều, 2013).
Có thể thấy rằng kiến trúc làng quê ĐBSCL thể hiện rõ nét đặc trưng
của vùng đất phù sa màu mỡ. Những ngôi làng được phân bổ theo hướng kéo
dài với kinh mương hoặc lộ giao thông là trục chính. Nhà cửa san sát hai bên,
hướng mặt lộ hoặc kinh mương, tạo nên một không gian mở và thông thoáng.
Thiếu vắng lũy tre bao quanh, làng mạc như hòa quyện vào khung cảnh thiên
nhiên bao la. Giữa lòng làng, ngôi đình cổ kính uy nghi, nơi người dân thờ
phụng thần Hoàng, là tâm điểm của các hoạt động lễ hội mang ý nghĩa tâm
linh sâu sắc. Các nghi lễ được tổ chức định kỳ, thể hiện lòng thành kính và
mong ước về mùa màng bội thu, nghề nghiệp thịnh vượng, làng xóm yên bình.
Lịch sử hình thành làng quê ĐBSCL gắn liền với quá trình khai khẩn đất đai
của người Việt cùng nhiều tộc người khác như Khmer, Hoa, Chăm. Sự giao
45

