Page 70 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 70
an cư lạc nghiệp là yếu tố tiên quyết cho sự ổn định và phát triển của cộng
đồng. Trong quá trình khai hoang, việc tìm kiếm những vùng đất phù hợp để
xây dựng nhà cửa, làng mạc là ưu tiên hàng đầu. Với nhu cầu giao thương và
khai thác thủy sản, các lưu dân thường chọn những khu vực ven sông, nơi có
dòng chảy thuận lợi, đồng thời cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào. Những
vùng đầm lầy, ngoài việc gây khó khăn cho việc sinh sống, còn tiềm ẩn nguy
cơ bệnh tật và sự tấn công của thú dữ, khiến người dân phải dè chừng.
Văn hóa ĐBSCL ngày nay mang dấu ấn sâu đậm của vùng Bắc Bộ, nơi
từng là trung tâm văn hóa Đông Sơn thời cổ đại và văn hóa Đại Việt thời
trung cổ với những di sản tinh hoa vô cùng phong phú. Đồng bằng Bắc Bộ
được xem là cội nguồn chung của văn hóa Việt Nam, lan tỏa ảnh hưởng đến
Trung Bộ và Nam Bộ về sau. Chính mối liên hệ mật thiết này đã tạo nên sự
thống nhất cao độ của văn hóa Việt Nam (Diều, 2016).
Trong suốt hai thế kỷ kiến tạo một vùng đất riêng biệt ở phương Nam,
các chúa Nguyễn đã vô tình tạo nên tính khép kín cho văn hóa Đàng Trong,
khiến nó tách biệt với văn hóa Đàng Ngoài. Tuy nhiên, đối với người dân, sự
tác động vô thức ấy không làm lu mờ ý thức về cội nguồn, cả về mặt văn hóa.
Do đó, tính thống nhất của văn hóa Việt Nam vẫn được giữ gìn. Theo Trần
Quốc Vượng, sự thống nhất quốc gia dưới thời vua Quang Trung, tiếp nối bởi
thời vua Gia Long, đã góp phần tạo điều kiện cho sự thống nhất văn hóa trở
nên vững bền hơn (Thủy, 2011).
Trong hành trình khai phá miền đất mới, người dân di cư đã nhận thức
sâu sắc về sự cần thiết của việc cùng nhau sinh sống, tạo thành cộng đồng
làng xóm. Họ cùng nhau lao động, tương trợ lẫn nhau trong những lúc khó
khăn, đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt. Từ đó, những khu dân cư, những
chòm xóm láng giềng đã hình thành ngay từ những bước đầu khai hoang. Về
bản chất, các làng ấp của người Việt Nam ở ĐBSCL là sự kết hợp của những
cư dân đến từ nhiều vùng miền, nhiều dòng họ khác nhau. Mối quan hệ giữa
họ không phải là huyết thống mà chủ yếu là láng giềng, tạo nên một cộng
đồng làng xóm mang tính kết nối lỏng lẻo hơn so với các làng quê ở đồng
bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.
Nét độc đáo của làng xã vùng ĐBSCL so với làng xã Bắc Bộ truyền
thống thể hiện rõ trong cấu trúc “làng mở” (Thêm, 2014). Trong khi làng xã
Bắc Bộ mang tính chất tự trị khép kín, làng xã ở đây lại hướng đến sự cởi mở,
hòa nhập. Khác với hình ảnh làng Bắc Bộ với lũy tre dày đặc và cổng làng
khép kín, phản ánh sự phân biệt họ tộc và giai cấp, làng ở vùng ĐBSCL lại
44

