Page 35 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 35

Long An và Kiên Giang, tăng trưởng kinh tế địa phương tương đối cao và tỉ
          lệ đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế thấp, xu hướng ngược lại
          với các tỉnh khác (Nhân và ctv., 2022). Điều này cho thấy rằng kinh tế nông
          nghiệp qua khai thác trực tiếp tài nguyên thiên nhiên như cách đã làm đến nay
          có lẽ đạt mức tới hạn. Việc phát huy giá trị dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên và
          cải tiến giá trị gia tăng sản phẩm của hệ sinh thái nông nghiệp trong bối cảnh
          mới là vấn đề cần quan tâm.

               Kinh tế vùng chi phối thu nhập bình quân đầu người của cư dân. Thu
          nhập bình quân đầu người trong vùng có cải thiện nhưng vẫn thấp và chậm
          so với trung bình của vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng (Tổng
          cục Thống kê, 2023; chương 10). Điều này cho thấy kinh tế dựa vào nông
          nghiệp như thời gian qua có cải thiện thu nhập theo xu hướng của phát triển
          chung của quốc gia. Chuyển dịch nông nghiệp, kinh tế nông thôn và đời sống
          cư dân có liên quan mật thiết với nhau. Thu nhập của cư dân từ nông nghiệp,
          phi nông nghiệp tại chỗ và bên ngoài địa phương, liên quan đến chuyển dịch
          nông nghiệp và tương tác giữa nông thôn – thành thị, giữa nông thôn – khu
          công nghiệp và dịch vụ. Hiệu quả này góp phần thay đổi cấu trúc, kinh tế
          nông thôn nhanh và tích cực hơn trong bối cảnh “bình thường mới”. Chính
          sách của Nhà nước, thể chế chính thức, không chính thức và hợp tác công –
          tư có vai trò quan trọng. Ví dụ điển hình từ Trung Quốc cho thấy vấn đề này
          (Huang & Shi, 2021).
               Bài học từ lịch sử phát triển vùng cho thấy phát triển và chuyển dịch
          kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng cần quan tâm đầy đủ đến
          tính đa mục tiêu và đa giá trị (hữu hình và vô hình) của dịch vụ hệ sinh thái
          tự nhiên, đây vốn là lợi thế của vùng ĐBSCL. Do đó, nếu hiểu các khía cạnh
          đó đầy đủ thì có thể có cách tiếp cận và phương pháp triển khai hiệu quả hơn.

               Sự phát triển bền vững vùng ứng phó đồng thời với nhiều thách thức và
          cơ hội đan xen như: tăng trưởng kinh tế, cải thiện việc làm và chất lượng cuộc
          sống cư dân dân số, hội nhập lao động và kinh tế quốc gia và khu vực và thay
          đổi môi trường-sinh thái. Bài học kinh nghiệm từ lịch sử phát triển vùng trong
          bốn thập niên qua cho thấy tăng trưởng kinh tế qua khai thác trực tiếp và thâm
          dụng tài nguyên thiên nhiên gây ra chi phí vô hình về môi trường trong khi
          giá trị gia tăng hữu hình gần như tới hạn (chương 4; Chapman et al., 2016;
          VCCI & Fulbright, 2023). Chiến lược phát triển bền vững vùng theo định
          hướng của Chính phủ đã chuyển hướng cách tiếp cận, thay đổi mục tiêu phát
          triển và tầm nhìn dài hạn của vùng ĐBSCL (Thủ tướng Chính phủ, 2022).



                                                                                  9
   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40