Page 36 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 36

Vấn đề quan trọng là năng lực và hành vi ứng xử của con người để vượt qua
          thách thức và đón nhận cơ hội của bối cảnh mới.

               1.3  QUAN  HỆ  GIỮA  SINH  THÁI  TỰ  NHIÊN,  HÀNH  VI  VÀ
          HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI
               1.3.1  Quan hệ giữa hệ sinh thái tự nhiên và hành vi

               Sinh thái tự nhiên và hành vi ứng xử của cư dân đồng bằng là đặc trưng
          văn hóa (Thêm, 2022, tr. 392). Quan hệ này có thể được xem là hệ sinh thái
          xã hội, ở đó cư dân và thiên nhiên cùng tồn tại, ảnh hưởng và phát triển theo
          thời gian. Với mạng lưới sông rạch (kênh) chằng chịt, nước ngọt/lợ/mặn/phèn
          thay đổi theo mùa, cư dân ở đây, qua nhiều thế hệ đã thích ứng với điều kiện
          tự nhiên này và phát triển các hành vi ứng xử thông minh để khai thác tài
          nguyên một cách hiệu quả (Nam, 2024), kết quả tạo ra một vùng đất phong
          phú, đặc trưng cho nền kinh tế nông nghiệp dựa trên tài nguyên nước (Chính
          phủ Việt Nam và Chính phủ Hà Lan, 2013). Định hướng chiến lược phát triển
          đồng bằng tầm nhìn đến năm 2050 cũng dựa trên nền tảng hệ sinh thái tự
          nhiên bản địa (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

               Do điều kiện khí hậu ôn hòa giữa mùa và tài nguyên thiên nhiên phong
          phú nên con người đồng bằng có đặc trưng sống giản dị và ôn hòa. Họ ít lo
          toan, không quá coi trọng vật chất, địa vị, sống chân thành, cởi mở, hiếu khách
          (Thêm, 2022, tr. 684). Đây là đặc trưng hành vi rất nhân văn. Tuy nhiên, trong
          tương lai tài nguyên thiên nhiên có lẽ không còn phì nhiêu và phong phú nữa,
          vậy thì đặc điểm hành vi, ví dụ như “ít lo toan”, liệu còn phù hợp trong bối
          cảnh mới.

               Từ thế kỷ 19, cư dân đồng bằng đã biết thích nghi với điều kiện khó
          khăn nước mặn, nước ngọt và nước nổi. Nam (2024, tr. 288) viết:
               “Từ đời Gia Long, Minh Mạng,…Ai cũng biết đào kinh thì đất ráo phèn,
          ruộng nương dễ khai phá, dân chúng thích quy tụ ở nơi sông sâu nước chảy”.

               Người dân bản địa đã quen thuộc với việc sống trong điều kiện nước
          mặn vào mùa khô và nước ngọt vào mùa mưa. Sự thích nghi này thể hiện qua
          các biện pháp sản xuất nông nghiệp thích nghi theo kiểu sinh thái tự nhiên,
          phù hợp với từng mùa khác nhau. Những mô hình canh tác nông nghiệp đa
          dạng như: lúa mùa cấy hai lần, lúa mùa – rau/màu luân canh, lúa – tôm/cá
          luân canh hoặc kết hợp, phát triển vườn cây ăn trái trên nền đất lúa, để phát
          huy tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên và “thuận” theo yếu tố sinh thái
          (chương 4; Sanh et al., 1998; Coq et al., 2004). Nhờ đó, theo thời gian, cư dân


          10
   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40   41