Page 32 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 32

1.2  YẾU TỐ TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

               1.2.1  Yếu tố tự nhiên
               Vùng ĐBSCL được tạo nên từ các tiến trình địa chất và sinh thái kéo
          dài 6-7 ngàn năm trước đây, bao gồm tương tác giữa bồi lắng phù sa sông
          Mekong, thay đổi mực nước biển và hoạt động kiến tạo địa chất (Zoccarato
          et  al.,  2018).  Theo  đó,  tiểu  vùng  đầu  nguồn  của  đồng  bằng  giáp  với
          Campuchia hình thành trước (khoảng 6-7 ngàn năm trước đây) và tiến dần
          xuống hạ lựu hướng ra biển (3-4 ngàn năm). Sông Mekong mang lượng lớn
          nước ngọt và phù sa từ thượng nguồn vào mùa mưa hàng năm bồi đắp đồng
          bằng tiến ra biển từ kỷ băng hà (Holocene), trải qua hàng ngàn năm theo chế
          độ dòng chảy bình thường của sông Mekong. Tiến trình ngập và bồi lắng phù
          sa dần dần, kết hợp với tiến trình hạ thấp mực nước biển, tạo nên vùng đất
          mới, bồi tụ vùng đất thấp và hình thành hệ thống sông, rạch và đồng bằng
          (Xue et al., 2010). Sự kết hợp tương tác giữa chế độ thủy văn sông Mekong
          và thủy triều biển góp phần tạo ra tiến trình lấn biển và mở rộng đồng bằng,
          định hình tiểu vùng ven biển và nâng dần độ cao địa hình. Sự tương tác ảnh
          hưởng của chế độ thủy văn sông và thủy triều từ biển giúp tạo ra tiểu vùng
          thủy văn và hệ sinh thái đất ngập nước đa dạng: ngập lũ, phù sa nước ngọt,
          cửa sông với nước ngọt-lợ theo mùa, nước mặn, giồng cát ven biển, hệ thống
          sinh thái rừng tràm ngập nước, hệ thống rừng ngập mặn ven biển (xem các
          chương 2, 4 và 7). Tính đa dạng sinh thái này đóng góp lớn đến gia tăng giá
          trị dịch vụ sinh thái của vùng (Nguyễn và ctv., 2024).

               Yếu tố do tự nhiên và con người ở phạm vi lưu vực và vùng tác động
          đáng kể đến tính ổn định của đồng bằng. Trong những thập niên gần đây, lưu
          lượng dòng chảy và phù sa sông Mekong suy giảm đáng kể (Toản và ctv.,
          2016). Theo đó, sự suy giảm dòng chảy và lưu lượng phù sa của sông Mekong
          xuống hạ lưu do sự kết hợp ảnh hưởng của đập thủy điện trên dòng chính ở
          đầu nguồn (Hecht et al., 2019) và tác động của biến đổi khí hậu (Darby et al.,
          2016). Sự phát triển đập thủy điện trên dòng chính đầu nguồn gia tăng nhanh
          từ đầu thập niên 2010 (Hecht et al., 2019); nếu xây dựng thêm đập như kế
          hoạch, lưu lượng phù sa đến vùng ĐBSCL giảm đến 90% và hầu như không
          còn phù sa thô (Toản và ctv., 2016), ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự bồi tụ,
          tính ổn định của đồng bằng và độ phì nhiêu đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, xu
          hướng dịch chuyển bão nhiệt đới làm giảm lưu lượng mưa ở đầu nguồn, do
          đó giảm khoảng 60% tổng lượng phù sa sông xuống hạ lưu (Darby et al.,
          2016). Những thay đổi này được dự đoán có thể tiếp tục tiếp diễn trong tương
          lai. Khi đó, những thuật ngữ, suy nghĩ khá phổ biến được coi là đặc trưng và

          6
   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37