Page 34 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 34
đầu tư nhiều công trình giao thông và thủy lợi trọng điểm, phạm vi tác động
liên tỉnh và liên vùng. Vấn đề định hình khu dân cư và kết cấu hạ tầng đối
mặt kép với tình trạng xói lở, mực nước biển dâng, sụt lún đất, mâu thuẩn
quản lý nước địa phương và thiếu vật liệu đắp nền (Anthony et al., 2015; Do
et al., 2024). Vấn đề này cần quan tâm tới thay đổi đặc điểm định cư trong
quy hoạch dân cư và kết cấu hạ tầng thích nghi với thay đổi môi trường – sinh
thái trong tương lai.
Cộng đồng địa phương thích nghi với ngập lũ (nước nổi) theo mùa
bằng cách cất nhà sàn, sử dụng kết cấu trình nổi, canh tác cây trồng chịu ngập
úng (ví dụ: lúa mùa cấy hai lần, lúa mùa nổi, rau thủy sinh). Các hoạt động
sinh kế cư dân gắn liền với con nước (nước lớn/ ròng, nước rông/kém) và
chu kỳ lũ để thích nghi. Tuy nhiên, hiện nay và thời gian tới, tác động phát
triển công trình đầu nguồn, biến đổi khí hậu làm mùa lũ và bồi lắng phù sa
ngày càng thấp hơn, xâm nhập mặn sâu hơn (van Aalst et al., 2023). Tác
động đó, làm cho hoạt động sinh kế truyền thống không còn phù hợp, nhạy
cảm với nguy cơ xói lở bờ sông/bờ biển và suy giảm nguồn lợi thủy sinh
(Anthony et al., 2015).
Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành nhờ lấn biển từ bồi lắng
phù sa sông Mekong, đặc biệt bán đảo Cà Mau. Tuy nhiên, hiện tượng lấn
biển ngày càng giảm. Giai đoạn 1973 - 2005, tốc độ bồi lắng lấn biển trung
bình từ 7,8 m/năm còn 2,7 m/năm, ngay cả một số điểm bị xói lở với tốc độ
lấn biển −1,4 m/năm (Li et al., 2017). Theo đó, tốc độ diện tích bồi lắng lấn
2
2
biển cũng giảm dần, trung bình 4,3 km /năm (1973–1979), 1,0 km /năm
2
(1995–2005) và −0,05 km /năm (2005–2015) (Liu et al., 2017). Do đó, đồng
bằng cần phải chuyển trạng thái để ứng phó, từ bồi lắng sang xói lở.
1.2.3 Kinh tế - xã hội
Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp thành tựu đáng kể về sản xuất
lương thực và kinh tế nông nghiệp của quốc gia. Trong suốt bốn thập niên từ
những năm 1980 đến nay, thành tựu nông nghiệp vùng đóng góp quan trọng
cho đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản quốc gia. Từ năm
2017 đến 2022, khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng 1/3 trong cơ cấu
kinh tế vùng nhưng chỉ đóng góp trung bình khoảng 1,5% vào tăng trưởng
kinh tế vùng, so với khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, đóng góp
khoảng 2 – 3% (VCCI & Fulbright, 2022 & 2023). Theo đó, tỉ trọng đóng
góp của khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh
tế vùng không cải thiện. Những tỉnh phát triển công nghiệp và dịch vụ như
8

