Page 33 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 33
thế mạnh của vùng như: “vùng đồng bằng phì nhiêu”, “vựa lúa, vựa trái cây,
vựa thủy sản”, “làm chơi ăn thiệt”, “chơi xả láng, sáng về sớm”, cần phải thay
đổi trong nhận thức và hành động. Lịch sử chứng minh, vùng đồng bằng
không phải là vùng sinh thái phì nhiêu và dễ sống so với các vùng khác của
Việt Nam. Cư dân đầu tiên khai khẩn tài nguyên thiên nhiên phải đối phó với
nhiều hiểm họa thiên nhiên và điều kiện sống khắc nghiệt (Thêm, 2022, tr.
438; Nam, 2024, tr. 17-18). Trong tương lai, với thay đổi nhanh và khó lường
của tự nhiên và kinh tế - xã hội, hệ sinh thái tự nhiên có thể không còn phì
nhiêu và cuộc sống cư dân sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm tàng khó
lường. Bên cạnh đó, sức sản xuất của hệ sinh thái tự nhiên và giá trị sản phẩm
nông nghiệp thô (vựa) không đủ tạo ra giá trị để cải thiện chất lượng cuộc
sống cư dân và sự thịnh vượng của vùng.
1.2.2 Định cư và hạ tầng
Từ thế kỷ 17, người dân từ nơi khác đến đồng bằng định cư nhiều hơn
và bắt đầu khai thác tài nguyên thiên nhiên (chương 2 và 4). Yếu tố chính
quyết định kiểu định cư và phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông bộ và thủy,
kênh thủy lợi) và thủy văn, địa hình, đất đai và phát triển sản xuất, kinh tế
nông nghiệp (chương 2 và 3; Nam, 2024). Tiến trình khai khẩn thiên nhiên để
sản xuất nông nghiệp bắt đầu từ tiểu vùng đất phù sa, nước ngọt, địa hình cao,
thuận lợi canh tác (phía Bắc sông Tiền và dọc sông Tiền và sông Hậu); sau
đó, tiến dần xuống phía Nam sông Hậu, bán đảo Cà Mau, tiểu vùng Đồng
Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, nơi có địa hình trũng, đất phèn, ngập úng
trong mùa mưa và thiếu nước tưới trong mùa khô, bằng giải pháp phát triển
hạ tầng thủy lợi và cải tạo đất phèn (chương 4; Nam, 2024). Kiểu định cư và
khai thác tài nguyên như vậy có thể được xem như “định cư và khai thác tài
nguyên dựa vào (hoặc thuận theo) hệ sinh thái”. Bằng cách đó, cư dân có thể
mở rộng hệ thống kênh đa mục tiêu (sản xuất nông nghiệp, giao thông, định
cư, quốc phòng), mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp, hình thành các
kiểu sử dụng đất nông nghiệp thích nghi (vườn cây ăn trái, rẫy trồng rau/màu,
ruộng lúa, ao/bãi nuôi cá/tôm và nguồn lợi thủy sản khác), phát triển cụm dân
cư nông thôn, đô thị (chương 2 - 4).
Chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế thúc đẩy đô thị hóa ở vùng ĐBSCL.
Tỉ lệ đô thị hóa của vùng trung bình khoảng 30% năm 2023, so với năm 2015
tăng 5%, chậm hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng, miền Đông Nam Bộ
và trung bình quốc gia (Bộ Xây dựng, 2023; Tổng cục Thống kê, 2024). Tốc
độ đô thị hóa tương đối chậm do tốc độ công nghiệp hóa thấp và tỉ lệ xuất cư
cao (VCCI & Fulbright, 2022 & 2023). Trong nhũng năm gần đây, Chính phủ
7

