Page 40 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 40

Xây dựng cộng đồng và liên kết xã hội bền vững: Nâng cao năng lực để
          thay đổi hành vi không chỉ cần ở mức cá nhân mà còn cần xây dựng cộng
          đồng gắn kết, nơi mà các sáng kiến thích ứng và phát triển bền vững được
          chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau. Các nhóm cộng đồng, hợp tác xã, doanh nghiệp và
          đoàn thể đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa hỗ trợ đào tạo, thực hành
          tốt và giúp cư dân tiếp cận nguồn lực hỗ trợ bên ngoài để thực hiện các biện
          pháp thích ứng (chương 6).

               Hành vi tiêu dùng và sản xuất bền vững: Người dân cần điều chỉnh hành
          vi trong sản xuất và tiêu dùng để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường
          và tài nguyên thiên nhiên. Điều này bao gồm việc hạn chế sử dụng hóa chất
          nông nghiệp, áp dụng các phương pháp sản xuất bền vững và thân thiện với
          môi trường, cũng như tăng cường tái chế, tái sử dụng tài nguyên. Các hoạt
          động này không chỉ giúp phát huy giá trị dịch vụ sinh thái bản địa - một lợi
          thế của đồng bằng.

               Thúc đẩy tinh thần hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế: Giáo dục và
          đào tạo học sinh và sinh viên để thay đổi nhận thức về vai trò và lợi ích của
          hội nhập quốc tế giúp cư dân tương lai của vùng có các chuẩn mực và yêu
          cầu của thị trường quốc tế (chương 11). Việc tham gia hội nhập lao động và
          chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi phải tuân thủ các tiêu chuẩn năng lực, chất
          lượng và bảo vệ môi trường. Do đó, ta cần khuyến khích người dân và doanh
          nghiệp địa phương điều chỉnh cách sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng để đáp
          ứng các yêu cầu này.

               1.5  KẾT LUẬN

               Mối quan hệ chặc chẽ giữa hệ sinh thái tự nhiên, kinh tế - xã hội và
          hành vi ứng xử của con người ở đồng bằng biến động theo thời gian. Quan hệ
          đặc trưng này được gọi là “văn hóa” của vùng ĐBSCL. Hệ sinh thái tự nhiên
          là nền tảng cơ bản của hành vi và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Ngược
          lại, phát triển kinh tế - xã hội cũng tác động trở lại hành vi và hệ sinh thái tự
          nhiên. Mối quan hệ này làm cho người đồng bằng có những ứng xử phù hợp
          với thiên nhiên để sống và phát triển, góp phần tạo nên hệ thống tri thức bản
          địa. Yếu tố sinh thái tự nhiên định hình hành vi con người mang đậm đặc
          trưng “sông nước”, “thuận thiên nhiên”, “trọng nghĩa, và “công bằng”. Đây
          là đặc trưng văn hóa góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng trong
          tương lai.

               Trong tương lai, hệ sinh thái tự nhiên của đồng bằng dự đoán sẽ thay
          đổi do tác động của yếu tố tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, hành

          14
   35   36   37   38   39   40   41   42   43   44   45