Page 117 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 117

Người Hoa cùng với người Việt và các dân tộc khác đã cùng khai phá
          vùng đất mới để phát triển các hoạt động kinh tế như trồng lúa, sản xuất thủ
          công và đặc biệt là thương mại (mở chợ, buôn bán lúa gạo, đồ gốm, nhu yếu
          phẩm). Năm 1708, một thương nhân người Hoa là Mạc Cửu (đến định cư và
          khai phá vùng Hà Tiên từ trước đó), đã xin thần phục chúa Nguyễn, được
          chúa Nguyễn ban cho chức Tổng binh trấn giữ đất Hà Tiên. Hà Tiên chính
          thức sáp nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn (Nam, 1973).

               4.3.2  Lịch sử định cư và định canh
               Ở ĐBSCL, địa hình quyết định khả năng phát triển của không gian và
          khả năng tự bảo vệ khỏi lũ lụt, và những vùng đất màu mỡ nhất có thể canh
          tác thuận lợi đã được cư dân đến ở đầu tiên. Nhiều thế kỷ trước, do hầu như
          không có đê điều, nông dân đã phải điều chỉnh các hoạt động nông nghiệp và
          chăn nuôi tại địa phương để phù hợp với tốc độ và quy mô của lũ lụt hàng
          năm (Fanchette, 2004).

               Từ lúc lưu dân người Việt đến định cư và khai khẩn đất, cư dân đồng
          bằng đã dần dần tạo ra những kiểu cư trú, nhà ở phù hợp với điều kiện tự
          nhiên của vùng như các làng ven sông rạch, cụm dân cư trên đất giồng, kiểu
          nhà nổi trên xuồng, ghe, nhà sàn trên cọc, nhà trên nền đất đắp (chương 2 và
          chương 3).

               Vấn đề định cư và định canh của người dân Việt cũng như các dân tộc
          khác ở giai đoạn đầu đã gặp nhiều khó khăn. Thành ngữ “nhà đá, nhà đạp”
          nghĩa là căn nhà sơ sài, tạm bợ, ở nơi không làm ăn được hay ở nhầm vùng
          đất hoang vu nhiều thú dữ, khó tồn tại thì đá (đạp) một cái cho nó sập rồi
          chuyển nhà đi chỗ khác (Thêm, 2022, tr. 399). Dù có thay đổi bao nhiêu chỗ
          thì điểm chung nhất của việc định canh định cư vùng đồng bằng ở giai đoạn
          đầu là lựa chọn những vùng đất cao (giồng), dễ khai phá (trồng trọt), vùng đất
          cao ở các cửa sông, ven biển (đánh bắt cá), hình thành những làng, xã đầu
          tiên (Nam, 1973). Sau đó, định cư theo sông/rạch, kênh và đường giao thông
          để  tiếp  cận  nguồn  nước,  thuận  lợi  vận  chuyển.  Phổ  biến  nhà  hướng  về
          sông/rạch hoặc đường giao thông, sau nhà là ao cá, vườn cây ăn trái, kế đến
          là ruộng lúa (Chiem, 1994; Thêm, 2022, tr. 395 - 396).
               4.4  PHÁT  TRIỂN  HỆ  THỐNG  CANH  TÁC  NÔNG  NGHIỆP
          THÍCH NGHI

               4.4.1  Giai đoạn Phù Nam và Chân Lạp

               Vào thời kỳ Phù Nam và Chân Lạp, kiểu canh tác nông nghiệp của vùng
          đồng bằng tập trung vào trồng lúa nước, kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia


                                                                                 91
   112   113   114   115   116   117   118   119   120   121   122