Page 112 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 112

châu thổ sông Mekong được hình thành trong quá trình trầm tích kỷ Đệ Tứ
          (Quaternary)  từ  giai  đoạn  trầm  tích  kỷ  Pleistocene  muộn  đến  Holocene
          khoảng 7.500 năm trở lại (Lap et al., 2021). Trong đó, giai đoạn đồng bằng
          bắt đầu được bồi lắng từ vật liệu trầm tích phù sa cách đây khoảng 6.000 năm
          (Takagi et al., 2016). Quá trình hình thành vùng ĐBSCL qua nhiều giai đoạn
          “biển tiến và lùi”, ảnh hưởng bởi sông và biển nên địa hình không đồng nhất,
          quá trình bồi tụ và xói mòn trong các điều kiện môi trường khác nhau tạo nên
          địa mạo khá đa dạng (Chiếm, 1993; Ta et al., 2002; Lap et al., 2021).

               Mỗi đơn vị địa hình có các điều kiện thủy văn và thổ nhưỡng khác nhau
          và do đó mỗi dạng là một môi trường sinh thái nông nghiệp đặc biệt. Dựa
          trên các khái niệm này, hình thái đất vùng đồng bằng được chia thành các
          đơn vị, một số đơn vị phụ và kiểu địa mạo khá đa dạng (Tạ et al., 2002; Lap
          et al., 2005).

               Ngoại trừ các tiểu vùng núi và triền núi ở một số khu vực thuộc huyện
          Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn (An Giang) và Hòn Đất, Kiên Lương, Hà Tiên
          (Kiên Giang) nằm trên địa hình khá cao, các vùng đất thuộc bậc thèm trầm
          tích cổ Pleistocene muộn trải dài dọc theo biên giới Việt Nam – Cambodia từ
          Hà Tiên (Kiên Giang) đến Đức Huệ (Long An) có địa hình tương đối cao hơn
          so với các vùng đất hình thành từ trầm tích trẻ Holocene (Minderhoud et al.,
          2019; Haskoning, 2021). Do địa hình của thềm trầm tích Pleistocene muộn
          không đồng đều nên đã để lại các gò phù sa cổ có địa hình tương đối cao nằm
          rải rác giữa vùng đồng bằng ngập lụt. Các giai đoạn biển lùi đã để lại những
          cồn cát cổ có địa hình cao nằm xen kẽ giữa các vùng ngập triều thấp và những
          dãy đất cát địa hình cao với các vạt trũng giữa chúng chạy dọc theo những
          đoạn bờ biển dài khoảng 250 km ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,
          Sóc Trăng và Bạc Liêu (Anthony et al., 2015; Minderhoud et al., 2019).

               Do địa hình chênh lệch dẫn đến sự phân bố nguồn nước tạo thành những
          khu vực có độ ngập khác nhau. Dựa vào các yếu tố tự nhiên như địa hình -
          địa mạo, địa chất - trầm tích và thủy văn, vùng ĐBSCL có thể chia thành các
          tiểu vùng sinh thái như sau: (1) triền phù sa cổ, (2) đồng lụt kín (Đồng Tháp
          Mười), (3) đồng lụt hở (Tứ Giác Long Xuyên), (4) vùng trũng Tây Nam Sông
          Hậu, (5) đồng thủy triều sông (nước ngọt), (6) đồng thủy triều ven biển, (7)
          đê ven sông, (8) đồng bằng hỗn hợp ven biển, (9) đầm lầy ngập mặn Bán đảo
          Cà Mau (Thạch, 1980; Chiem, 1993; Coq, 2001; Trung et al., 2012).
               Sự thay đổi mực nước biển trong quá trình biển “tiến và lùi” dẫn đến
          diễn thế địa tầng thay đổi với sự đa dạng loại vật liệu trầm tích lắng tụ đã hình



          86
   107   108   109   110   111   112   113   114   115   116   117