Page 114 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 114
triều riêng biệt dọc theo bờ biển phía Tây và phía Đông gây ra những biến đổi
định kỳ phức tạp trong dòng nước, tùy thuộc vào vị trí gần cả hai bờ biển. Khi
lưu lượng dòng chảy sông Mekong giảm trong mùa khô, thế nước thủy triều
tăng dẫn đến nước mặn xâm nhập vào các con sông, rạch và các khu vực ven
biển, có lúc chỉ cách Châu Đốc khoảng 100 km (Biggs, 2005).
Tiến trình định cư và sản xuất vào những thế kỷ đầu sau công nguyên,
người Phù Nam cũng đã đào kênh, mương bằng thủ công để sản xuất nông
nghiệp, các hệ thống kênh đào được mở rộng vào thế kỷ thứ 4 - 8 (Malleret,
1959), giả thuyết này được xác nhận thông qua các cuộc khảo sát trên không
của Paris (1931). Sau đó, hệ thống kênh thủy lợi của người Khmer cổ đại đã
góp phần đáng kể vào việc phát triển vùng đất này, để lại những di sản mà
sau này người Việt tiếp nhận và phát triển thêm (Malleret, 1959; Fanchette,
2004). Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhằm mục tiêu khai khẩn đất để sản xuất
nông nghiệp, giao thương và mục tiêu quân sự, chính quyền Pháp và một số
điền chủ người Pháp đã đào một số kênh ở vùng ĐBSCL (Pouyanne, 1910,
1930; Bernanoise, 1922; Boy, 1933; Quang, 2021). Ngoài xây dựng các hệ
thống kênh, thời kỳ này cũng nạo vét các tuyến đường thủy quan trọng trong
một số khu vực ở vùng Đồng Tháp Mười (1890-1904), bán đảo Cà Mau
(1906) và Tứ Giác Long Xuyên Tiên (1930) (Biggs, 2005). Theo Pouyanne
(1910), chính quyền Pháp đã đặt ra kế hoạch xây dựng hệ thống kênh đào
thêm ở vùng ĐBCSL. Tuy nhiên, do có sự bất ổn xã hội, nhiều kênh đào chưa
được xây dựng. Mặc dù hệ thống kênh còn hạn chế nhưng có sự đóng góp của
mỗi kênh riêng lẻ với mạng lưới đường thủy cách đều nhau vào một hệ thống
dòng chảy thủy lực rộng lớn hơn của vùng đồng bằng.
4.2.3 Cảnh quan tự nhiên
Cảnh quan thực vật xưa kia của vùng đồng bằng không được ghi nhận
nhiều. Đối với các tài liệu tham khảo cụ thể về thời kỳ Phù Nam và Chân Lạp
trước đó, hầu hết các mô tả về cảnh quan thiên nhiên đều xuất phát từ sự ghi
nhận ngắn gọn và kết hợp giữa bằng chứng khảo cổ học, biên niên sử cổ đại
và những câu chuyện truyền miệng địa phương, vì có rất ít ghi chép trực tiếp
bằng văn bản từ thời đó. Thông tin cho rằng vùng này có nhiều rừng rậm đặc
trưng của khu vực (Miriam & Manguin, 2023).
Một số tài liệu đã mô tả là một vùng đất ngập nước hoang vu với những
rừng cây rậm rạp và những vạt lau sậy và đồng cỏ (Abel-Remusat, 1819;
Hương, 1974, Brocheux, 1995). Vào thế kỷ 18, cảnh quan phần lớn vẫn
hoang vu với hệ thống thủy văn tự nhiên của một vùng đồng bằng cuối nguồn
88

