Page 119 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 119

năm 1973-1974, nhờ hệ thống thủy lợi và sử dụng giống lúa cải tiến ngắn
          ngày (tên gốc là IR, gọi phổ biến là “thần nông”, không mẫn cảm quang kỳ)
          nên diện tích lúa cấy 2 lần giảm xuống từ khoảng 250.000 ha còn khoảng
          90.000 ha (Xuan, 1975). Theo Xuan (1975), đến năm 1973-1974, diện tích
          đất canh tác lúa của đồng bằng tăng đến khoảng 2 triệu hecta, chiếm khoảng
          71% diện tích canh tác lúa của Việt Nam; trong đó, diện tích lúa mùa khoảng
          1,5 hecta và lúa cao sản (IR) trồng trong mùa mưa khoảng 500.000 ha. Từ
          giữa thế kỷ 20, đồng bằng được xem là "vựa lúa" của Việt Nam, sản lượng
          lúa gạo ở đây để tiêu dùng nội địa và xuất khẩu (Nam, 1973; Xuan, 1975).

               Nhờ sử dụng giống lúa “thần nông” cho năng suất cao như giống IR8,
          hệ thống canh tác lúa mùa một vụ truyền thống được thay thế bằng canh tác
          lúa hai vụ ở một số nơi có chủ động nước ngọt và đất phù sa, chủ yếu ven
          sông Tiền. Nhờ vào hệ thống thủy lợi được cải thiện, cơ giới hóa khâu làm
          đất và áp dụng các giống lúa cải tiến IR đã làm thay đổi hệ thống canh tác lúa
          ở ĐBSCL (Đạt, 2002). Hệ thống canh tác nông nghiệp ở đồng bằng chủ yếu
          là lúa gạo, trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa được đánh dấu bằng sự kết hợp
          giữa tri thức bản địa, tập quán canh tác truyền thống và kỹ thuật nông nghiệp
          hiện đại.

               4.4.4  Giai đoạn sau năm 1975
               a.  Chương trình đầu tư phát triển sản xuất lúa

               Sau năm 1975, nhằm đẩy mạnh khai thác đất đai, phát triển sản xuất
          nông nghiệp ở vùng ĐBSCL để tăng sản lượng lúa cho nhu cầu lương thực
          quốc gia, Chính phủ triển khai Chương trình quốc gia “Điều tra cơ bản tổng
          hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990)” (Trân, 1990). Chương
          trình này tiến hành khảo sát, đánh giá tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội, làm
          cơ sở để đề xuất quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng (Hình
          4.1). Bên cạnh đó, Chính phủ triển khai các chương trình, dự án khác phục vụ
          quy hoạch sản xuất nông nghiệp như: ngọt hóa tiểu vùng Quản Lộ - Phụng
          Hiệp, khai phá Đồng Tháp Mười (Trân, 1990).

               Trong giai đoạn 1976 – 2000, chính sách ưu tiên phát triển sản xuất lúa
          cho an ninh lương thực của Chính phủ đã được triển khai, tập trung vào giải
          pháp công trình và kỹ thuật thâm canh. Về giải pháp công trình, Chính phủ
          đã chú trọng ba lĩnh vực chính:

               (1) Phát triển hệ thống kênh thủy lợi: Đầu tư vào hệ thống công trình
          thủy lợi (kênh, cống) ở vùng ĐBSCL được ưu tiên hàng đầu nhằm tưới, tiêu



                                                                                 93
   114   115   116   117   118   119   120   121   122   123   124