Page 118 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 118

cầm và nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ. Canh tác lúa nước hoàn toàn dựa vào
          nước mưa và nước từ sông Mekong bằng các giống lúa mùa cổ truyền ảnh
          hưởng quang kỳ. Canh tác lúa sơ khởi sử dụng mùa nước nổi tự nhiên và hệ
          thống kênh rạch ven sông lớn. Cây ăn trái trồng quảng canh trên đền đất phù
          sa, nước ngọt ven sông (tiểu vùng sinh thái 5, mục 4.2.1). Những hoạt động
          canh tác nông nghiệp sở khởi này đã đặt nền tảng cho các hệ thống sản xuất
          thâm canh và phức tạp hơn trong những thế kỷ sau đó.

               Trong thời kỳ Chân Lạp, các hệ thống canh tác nông nghiệp ở đồng
          bằng chủ yếu là canh tác lúa, trồng cây ăn trái, chăn nuôi gia súc, gia cầm và
          nuôi trồng thủy sản. Các cộng đồng Chân Lạp đã áp dụng các kỹ thuật thủy
          lợi đơn giản để điều tiết nước, kết hợp giữa canh tác nông nghiệp và thủy sản
          và tạo ra một nền canh tác nông nghiệp đa dạng, quảng canh, linh hoạt và dựa
          hoàn toàn vào thiên nhiên. Hệ thống canh tác này không chỉ đáp ứng nhu cầu
          lương thực tự cung - tự cấp mà còn giao lưu thương mại giữa các cộng đồng
          trong tiểu vùng (Nam, 1973).

               4.4.2  Giai đoạn Nhà Nguyễn và Pháp thuộc
               Hệ thống canh tác nông nghiệp vào thời Nhà Nguyễn và Pháp thuộc tập
          trung vào canh tác lúa nước. Canh tác lúa dựa vào nước mưa bắt đầu vùng đất
          cao và phù sa ven sông phía Bắc sông Tiền và giữa sông Tiền và sông Hậu
          (Nam, 1973). Ở đây, ngoài điều kiện đất và nước thuận lợi, hệ thống sông
          rạch tự nhiên và những kênh ‘cựa gà” ban đầu giúp tiêu úng trong mùa mưa,
          thăm đồng và vận chuyển lúa. Sau đó, canh tác lúa mở rộng xuống phía Nam
          sông Hậu và Bán đảo Cà Mau vào đầu thế kỷ 20 (Nam, 1973).
               Phương thức canh tác lúa nước có cải tiến hơn so với giai đoạn trước.
          Tuy nhiên, nó vẫn áp dụng theo mô hình canh tác truyền thống, sử dụng lúa
          mùa ảnh hưởng quang kỳ, thích nghi với nước nổi và nước lợ. Hệ thống canh
          tác lúa mùa bằng cách cấy 1-2 lần phổ biến thích nghi theo từng điều kiện
          thủy văn, địa hình và đất (Chiem, 1994; Sanh et al., 1998). Diện tích canh tác
          lúa mùa mở rộng dần xuống phía Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau nhờ phát
          triển hệ thống kênh thủy lợi tiêu úng trong mùa mưa và vận chuyển vào đầu
          thế kỷ 20 (Nam, 1973; Coq et al., 2001).
               4.4.3  Giai đoạn Việt Nam Cộng hòa

               Trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa (1955–1975), hệ thống canh tác nông
          nghiệp của đồng bằng chủ yếu là canh tác lúa mùa, cây ăn trái, rau/màu và
          chăn nuôi dựa vào sinh thái tự nhiên. Hệ thống canh tác lúa nước sử dụng
          giống lúa mùa truyền thống bằng phương pháp gieo mạ và cấy. Đến khoảng

          92
   113   114   115   116   117   118   119   120   121   122   123