Page 115 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 115

sông Mekong. Cho đến thế kỷ 19, các hệ sinh thái tự nhiên hoang sơ của
          vùng đồng bằng cũng đã được mô tả trong một ký sự của Nam (1962 & 1973)
          và Lê (1971).

               Khoảng cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, cảnh quan thiên nhiên của
          đồng bằng đã trải qua sự chuyển đổi đáng kể do sự mở rộng và thâm canh sản
          xuất nông nghiệp. Những thay đổi này được thúc đẩy bởi những nỗ lực của
          Pháp nhằm khai thác tiềm năng nông nghiệp của khu vực, đặc biệt là lúa gạo,
          trở thành cây trồng xuất khẩu chính (Nam, 1973). Sau đó, nhằm mở rộng vùng
          canh tác lúa, nhiều kênh đào và hệ thống thủy lợi đã được xây dựng làm thay
          đổi thủy văn tự nhiên. Những vùng đất ngập nước tự nhiên rộng lớn và rừng
          tự nhiên đã được khai hoang để tạo ra các cánh đồng lúa. Sản xuất lúa gạo
          chuyển từ canh tác tự cung tự cấp sang sản xuất quy mô lớn để xuất khẩu, tạo
          ra các động lực kinh tế để tối đa hóa việc sử dụng đất (Coq et al., 2001). Sau
          năm 1975, cảnh quan thiên nhiên của đồng bằng đã trải qua những thay đổi
          sâu sắc do sự đầu tư mở rộng và thâm canh sản xuất nông nghiệp. Những
          chuyển đổi này được thúc đẩy bởi các ưu tiên quốc gia về an ninh lương thực,
          tăng trưởng kinh tế và phát triển nông thôn (Sanh et al., 1998).

               4.3  QUAN HỆ GIỮA SINH CẢNH TỰ NHIÊN, ĐỊNH CƯ VÀ
          ĐỊNH CANH

               4.3.1  Sinh cảnh và lịch sử định cư
               Tuy ĐBSCL là một vùng đồng bằng trẻ nhưng vùng đã trải qua quá
          trình hình thành hàng ngàn năm. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu và kết quả
          khảo cổ đã ghi nhận con người hiện diện ở vùng đất này khá lâu. Từ đầu thế
          kỷ sau công nguyên, người dân thuộc Vương quốc Phù Nam (Fou-nan hay là
          Funan) đã bắt đầu sống ở vùng đồng bằng châu thổ này cho đến thế kỷ thứ 7
          (Pelliot, 1903; Fu, 1936; Malleret, 1944; Le, 2007; Zakharov et al., 2019),
          ngôn ngữ mà người Phù Nam sử dụng là tiếng Phạn (Sanskrit) (Malleret,
          1944; Hương, 1974; Vickery, 1994, 1996). Kinh thành của Vương quốc Phù
          Nam được cho là tại Óc Eo (An Giang).
               Vào khoảng cuối thế kỷ thứ 6 cho đến đầu thế kỷ thứ 7, người Chân
          Lạp (Chenla) gốc MônKhmer (chính vì vậy, một số tài liệu tiếng Pháp còn
          gọi là Môn) bắt đầu xâm chiếm và định cư vùng này sau khi Vương quốc Phù
          Nam bị suy tàn (Pelliot, 1903; Malleret, 1944; Coedes, 1954; Hương, 1974).
          Sau đó, tên Phù Nam đã không còn ai nhắc đến (Pelliot, 1903) cho mãi đến
          vài thập kỷ sau thì tên Fu-Nan mới được đề cập trong các nghiên cứu về khảo
          cổ ở vùng châu thổ sông Mekong của Coedès (1937).

                                                                                 89
   110   111   112   113   114   115   116   117   118   119   120