Page 113 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 113

thành các nhóm đất khác nhau (Ta et al., 2002; Tamura et al., 2009; Hanebuth
          et al., 2012; Lap et al., 2021). Kết quả khảo sát đất giai đoạn 1984 - 1987
          (Trân, 1990) và từ năm 1990 - 1993 (CTU và UAF, 1993) đã mô tả các nhóm
          đất chính: đất đồi núi, đất phù sa cổ hình thành từ trầm tích cổ Pleistocene,
          đất phù sa hình thành từ trầm tích sông, đất phèn hình thành từ trầm tích đầm
          lầy, đất phèn mặn hình thành từ trầm tích đầm lầy – biển, đất phù sa mặn và
          đất mặn hình thành từ trầm tích sông – biển. Các tiểu vùng địa mạo đã có sự
          quan hệ khá chặt các hình thái định cư và sản xuất, phát triển kinh tế của cư
          dân vùng đồng bằng trong nhiều thế kỷ qua.

               4.2.2  Thủy văn

               Nằm dưới nguồn sông Mekong, vùng ĐBSCL chịu ảnh hưởng rất nhiều
          từ chế độ thủy văn của sông Mekong. Ngoài lượng mưa trung bình khoảng
          1.400 mm/năm, nguồn nước đổ về từ sông Mekong đã có những tác động rất
          lớn trong việc cung cấp nước, phù sa, bồi lắng trầm tích và gây ngập từ cuối
          tháng 7 (hoặc tháng 8) đến tháng 11 hàng năm (Earth Observatory, 2004;
          Fanchette, 2006). Nhiều thế kỷ trước đây, vào mùa nước nổi kết hợp với triều
          biển Đông, phần lớn các vùng đất bằng và trũng bị ngập hoàn toàn, chỉ có
          những khu vực đất cao thuộc đất núi, dãy triền phù sa cổ dọc theo biên giới
          Việt Nam – Campuchia và các gò phù sa cổ, giồng cát ven biển thì không bị
          ngập hoặc bị ngập không nhiều.
               Đặc điểm địa mạo vùng đồng bằng và chế độ thủy văn đóng vai trò cơ
          bản trong việc định hình địa điểm và cách con người định cư cũng như sử
          dụng đất ở vùng đồng bằng. Mạng lưới đường thủy, đất đai màu mở đã hỗ trợ
          cho canh tác nông nghiệp, đánh bắt thủy sản, dịch vụ, giao thương.

               ĐBSCL là vùng ngập nước. Trước đây, khi nguồn nước sông Mekong
          chảy về vùng hạ lưu với một lượng nước khá lớn, từ tháng 8 đến tháng 11
          hàng năm, khi đó nước tràn đồng và người dân gọi là mùa “nước nổi”. Sau
          năm 1975, tên gọi “mùa nước nổi” được thay “mùa lũ”. Nước lũ từ sông
          Mekong mang lại cả thuận lợi và bất lợi cho người dân địa phương. Nước
          sông Mekong là nguồn cung cấp nước ngọt chính và cung cấp trầm tích phù
          sa, nguồn phân bón tự nhiên có giá trị cho cây trồng nông nghiệp và bồi đắp
          mở rộng đồng bằng (Chapman et al., 2016). Tuy nhiên, thách thức của lũ theo
          mùa, đã ảnh hưởng đến các mô hình định cư và sản xuất của người dân, lũ
          cực đoan có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho mùa màng và kết cấu hạ tầng.
               Đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng khiến cho các tiểu vùng ven
          biển chịu ảnh hưởng thủy triều khá mạnh. Theo Biggs (2005), hai chế độ thủy


                                                                                 87
   108   109   110   111   112   113   114   115   116   117   118