Page 129 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 129

Đất đai và nước không phải là tài nguyên vô tận. Quá trình khai khẩn
          và phát triển trong thời gian qua, suy nghĩ phổ biến là đồng bằng này là vùng
          đất phù sa, màu mỡ, nước đầy đủ. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu kết hợp với
          phát triển thủy điện vùng đầu nguồn sông Mekong đang và dự đoán sẽ làm
          giảm lưu lượng sông Mekong, giảm phù sa sông về đồng bằng (chương 1 ;
          Toản và ctv., 2016). Bên cạnh đó, 40 năm qua, việc thâm canh, áp dụng công
          trình kiểm soát lũ để phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội, đã
          có những thành quả về kinh tế - xã hội nhưng trả giá về môi trường – sinh
          thái, từ đó tác động bất lợi đối với kinh tế - xã hội (Chapman et al., 2016).

               Ngoài ra, tác động của phát triển kinh tế - xã hội cũng góp phần làm tài
          nguyên tự nhiên của đồng bằng suy giảm. Khai thác cát sông để cung cấp vật
          liệu san lấp, xây dựng dẫn đến thay đổi dòng chảy, gây sạt lở bờ sông và ven
          biển (Anthony et al., 2015). Sử dụng nước ngầm để phục vụ sinh hoạt, sản
          xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp ở tiểu vùng ven biển làm cho đất
          bị  sụt  lún  với  tốc  độ  nhanh  hơn  so  với  mức  nước  biển  dâng  mỗi  năm
          (Zoccarato et al., 2018; Minderhoud et al., 2019). Ngoài ra, chất thải sinh
          hoạt, nông nghiệp và công nghiệp không được xử lý góp phần làm ô nhiễm
          nguồn nước mặt, ảnh hưởng bất lợi đến hệ thống cấp nước sinh hoạt và sản
          xuất, sản xuất nông nghiệp và cảnh quan (Hiền, 2020).

               Tri thức bản địa trong canh tác nông nghiệp và những hệ thống canh tác
          cổ truyền tồn tại và phát triển đến nay, thích nghi với hệ sinh thái, tác động
          của biến đổi khí hậu và đáp ứng với mục tiêu kinh tế - xã hội, có thể coi là di
          sản văn hóa của đồng bằng. Hệ thống canh tác đó có thể tạo ra sản vật có chất
          lượng cao, đặc sắc bản địa. Ví dụ: Lúa, thủy sản trên nền nước lợ ngon hơn;
          khóm trên đất phèn, nền nước lợ vàng và ngọt hơn; lá dừa nước lợp nhà ở
          vùng nước lợ bền hơn ở vùng nước ngọt.

               4.6  CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH

               4.6.1  Cơ hội và thách thức
               Sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL có những thế mạnh song song
          với những hạn chế. Thế mạnh quan trọng là tài nguyên thiên nhiên và tri thức
          bản địa. Điểm mạnh cũng có thể đồng thời là hạn chế. Địa hình thấp, mạng
          lưới sông rạch chằng chịt hạn chế phát triển kết cấu hạ tầng để hiện đại hóa
          nông nghiệp, làm tính nhạy cảm với biểu hiện của biến đổi khí hậu. Hạn chế
          nội tại có thể chủ động thay đổi dễ dàng, trong khi cơ hội và thách thức liên
          quan đến tài nguyên thiên nhiên là yếu tố bên ngoài khó lường, cần quan tâm
          để chủ động nắm bắt và chuyển hóa. Sau đây là cơ hội và thách thức quan

                                                                                103
   124   125   126   127   128   129   130   131   132   133   134