Page 131 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 131

- Sự cạnh tranh thị trường nông sản thế giới ngày càng cao giữa các
          nước xuất khẩu nông sản cạnh tranh hàng hóa cùng loại với các nước trong
          khu vực ASEAN, trong khi năng lực nông dân và doanh nghiệp trong vùng
          hạn chế nhân lực giảm sức cạnh tranh của vùng;
               - Kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng của vùng phụ thuộc
          lớn vào hạ tầng logistics của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam
          Bộ, đang quá tải và tăng chi phí dịch vụ, từ đó giảm tính cạnh tranh hàng hóa
          của vùng.

               4.6.2  Khuyến nghị chính sách
               Phát triển sản xuất nông nghiệp giá trị gia tăng dựa trên lợi thế sinh
          thái bản địa. Phát triển hệ thống canh tác phù hợp với hệ sinh thái, đáp ứng
          nhu cầu sản phẩm thị trường thì không phải là vấn đề mới và hướng đi này
          cũng được xác định trong định hướng của Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ,
          2020, 2022).

               Phát huy lợi thế dịch vụ hệ sinh thái bản địa: Hệ sinh thái bản địa của
          đồng bằng là đa giá trị, gồm giá trị hữu hình (thị trường) và vô hình (môi
          trường – sinh thái, văn hóa). Giá trị hữu hình không chỉ là sản phẩm lương
          thực và thực phẩm từ kinh tế nông nghiệp mà còn là sản phẩm khác cho các
          ngành kinh tế khác như: xây dựng, dược phẩm, thủ công-mỹ nghệ, nhiên liệu.
          Giá trị vô hình có thể giúp tăng giá trị hữu hình (ví dụ: du lịch sinh thái –
          nông nghiệp, dịch vụ lưu trú, bất động sản (chương 7)).

               Dựa trên bối cảnh thực tiễn của đồng bằng (thế mạnh, hạn chế, cơ hội
          và thách thức), việc triển khai hai khuyến nghị trên nhằm đạt mục tiêu của
          chiến lược phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn
          2045, trong đó có bốn nội dung liên quan đến chính sách cần quan tâm sau:

               (1) Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên bản địa làm nền tảng hỗ trợ phát triển

          kinh tế nông nghiệp và phát huy dịch vụ hệ sinh thái để vượt qua thách thức
          và nắm bắt cơ hội. Ví dụ: Hệ sinh thái ngập nước Đồng Tháp Mười, Tứ Giác
          Long Xuyên, U Minh Thượng và U Minh Hạ; hệ sinh thái rừng ngập mặn.
               (2) Tăng cường năng lực nông dân, tổ chức nông dân, hợp tác xã và

          doanh nghiệp nhỏ tham gia kinh doanh nông nghiệp – nông thôn để tiếp cận
          hỗ trợ dịch vụ công và tư tốt hơn; đây là chủ thể quan trọng. Tổ hợp tác, hợp
          tác xã là nền tảng quan trọng trong liên kết nông dân sản xuất nhỏ và kết nối
          họ với doanh nghiệp, dịch vụ công từ nhà nước.




                                                                                105
   126   127   128   129   130   131   132   133   134   135   136