Page 130 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 130
trọng liên quan trực tiếp đối với phát triển sản xuất nông nghiệp của vùng
trong tương lai:
a. Cơ hội
- Chính phủ đã xác định tầm nhìn mới, giá trị mới và cách tiếp cận mới
cho phát triển ĐBSCL. Theo đó, Chính phủ và tổ chức quốc tế tập trung đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng và năng lực thúc đẩy chuyển dịch kinh tế ĐBSCL
theo hướng “thuận thiên”;
- Xu thế tăng trưởng xanh, tiêu dùng và thị trường xanh là cơ hội phát
huy dịch vụ hệ sinh thái để phát triển kinh tế sinh thái của đồng bằng;
- Phát triển liên tục khoa học – công nghệ sản xuất và chế biến nông sản
theo hướng cơ giới hóa, công nghệ cao, an toàn và áp dụng công nghệ thông
tin, dịch vụ tri thức (chuỗi khối, tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật), dịch
vụ khí hậu (năng lượng xanh, tín chỉ carbon) là cơ hội để nâng cấp, phát triển
chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị chủ lực và tiềm năng của vùng theo xu thế thị
trường thế giới;
- Biến đổi khí hậu và nước biển dâng là thách thức nhưng cũng là cơ
hội nếu tận dụng hiệu quả để chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng
mới, phù hợp với sinh thái và quy luật tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái,
làm nền tảng thu hút đầu tư và phát triển nguồn lực xã hội;
- Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ là cơ hội để thu hút người đến nghỉ dưỡng, định cư và
kinh doanh ở vùng đồng bằng trong tương lai nếu môi trường sinh thái của
vùng được quản lý và phát huy hiệu quả.
b. Thách thức
- Biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thay đổi bất thường dòng chảy và
lượng phù sa sông Mekong, suy giảm đa dạng sinh học và nguồn gen tự nhiên
của lưu vực có ảnh hưởng bất lợi đến hệ sinh thái bản địa và phát triển nông
nghiệp của vùng đồng bằng;
- Đô thị hóa và công nghiệp hóa ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ thu hút nguồn lao động chất lượng cao, hạn chế chuyển
dịch kinh tế - xã hội vùng;
- Tự túc lương thực của nhiều quốc gia là thị trường quan trọng của
ngành hàng gạo Việt Nam và cũng là điều kiện thương mại cho các sản phẩm
của vùng trở nên khó khăn.
104

