Page 125 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 125

Giai đoạn 2016 – 2024, hạn mặn cực đoan xảy ra năm 2015-2016 2019-
          2020 và mới đây (2023-2024), cùng với nhu cầu cải tiến hiệu quả sản xuất
          nông nghiệp để tăng thu nhập cho nông dân, phát triển kinh tế nông thôn và
          tăng tính cạnh tranh thị trường nông sản. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh
          tế - xã hội vùng ĐBSCL chậm lại và tụt hậu so với các vùng khác (VCCI &
          Fulbright, 2022). Khi đó, Chính phủ triển khai hàng loạt chiến lược và quyết
          định nhằm chuyển đổi toàn diện nông nghiệp và nông thôn của vùng giai đoạn
          2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2022).

               Điểm cốt lõi của chính sách trong giai đoạn này là phát huy lợi thế sinh
          thái và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản. Liên kết giữa các địa
          phương để phát triển ngành hàng nông sản chủ lực chung, phát triển kết cấu
          hạ tầng hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế - xã
          hội – môi trường nông thôn, xoay trục chiến lược sang ngành thủy sản – trái
          cây – lúa gạo, dựa trên lợi thế sinh thái của tiểu vùng và nhu cầu thị trường.
          Theo đó, định hướng giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 là phát
          triển kinh doanh nông nghiệp thông qua xây dựng đô thị nông nghiệp – công
          nghiệp, với vùng sản xuất chuyên canh nối kết với trung tâm đầu mối và cụm
          ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ và kinh doanh nông sản cấp tiểu vùng.
          Phát triển kinh tế nông nghiệp sinh thái, hướng hữu cơ kết hợp du lịch nông
          nghiệp – nông thôn và xây dựng nông thôn mới (Thủ tướng Chính phủ, 2020).
               c.  Hệ thống canh tác nông nghiệp

               Vùng ĐBSCL có lợi thế về tự nhiên để sản xuất nông nghiệp, chủ yếu
          là lúa gạo, trái cây và thủy sản. Điều kiện tự nhiên, yếu tố kỹ thuật canh tác
          nông nghiệp, chính sách của Chính phủ và thị trường chi phối động thái sản
          xuất nông nghiệp của vùng. Những năm gần đây, biểu hiện của biến đổi khí
          hậu và thay đổi dòng chảy của sông Mekong đã rõ rệt hơn (chương 1). Bên
          cạnh đó, chuyển đổi chính sách và thị trường nông sản cũng đã thay đổi sâu
          rộng. Từ đó, hệ thống canh tác của vùng cũng thay đổi, kết hợp với thay đổi
          về tổ chức sản xuất và dịch vụ, và áp dụng công nghệ mới hướng tới phát
          triển kinh doanh nông nghiệp. Lĩnh vực thay đổi bao gồm:

               Đổi mới kỹ thuật để thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả
          tài nguyên nước: Các giải pháp thích ứng ngày càng được chú trọng, bao gồm:
          giống chịu hạn/mặn, hệ thống tưới thông minh, tiết kiệm nước, phân bón
          thông minh, chế phẩm sinh học cho trồng trọt, chăn nuôi hoặc thủy sản.
               Chuyển đổi từ canh tác lúa sang cây trồng khác: Canh tác lúa đã chứng
          kiến sự chuyển đổi lớn. Dù lúa vẫn là cây trồng chính, nhưng một số vùng đã


                                                                                 99
   120   121   122   123   124   125   126   127   128   129   130