Page 128 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 128

Qua mấy trăm năm khai khẩn, hiện nay đất có thể canh tác được của
          toàn vùng là khoảng 2,2 triệu hecta, trong đó đất trồng lúa gần 1,4 triệu hecta,
          đất trồng cây ăn trái khoảng 400.000 hecta, đất nuôi trồng thuỷ sản (chuyên
          canh và trên đất lúa) khoảng 800.000 hecta (Tổng cục Thống kê, 2024). Để
          canh tác được trên vùng đất mới, cư dân trước đây phải đốn từng cây gốc lớn,
          phát hoang bụi rậm, đốt cỏ, cuốc lật đất hoặc cày bằng lưỡi cày phá lâm (lưỡi
          cày lẹm – lưỡi nhỏ bằng bàn tay) để dễ né những gốc cây còn sót lại (Nam,
          1973). Đối với đất ngập nước, mùa khô phải đốn, đốt và phá những gốc lớn
          trong đợt đầu tiên, khi mùa mưa một số loại mọc lên trở lại như cỏ năn, cỏ lát
          thì dùng phảng phát xong ngâm nước, khi cỏ thúi thì dùng cào rê kéo gom lại
          thành từng giồng để cấy lúa vào chỗ đất trống (Chiem, 1994). Giồng cỏ mục
          là nơi ưa thích của những loại ăn chui rúc như lươn, trạch, cá trê vàng thích
          làm ổ đẻ. Cỏ mục hoàn toàn để lại lượng hữu cơ đáng kể cho cây lúa. Muốn
          chuyển thành vườn cây hay nền đất cất nhà ở thì phải đào mương, lên liếp để
          nâng cao mặt bằng (Chiem, 1994).
               Công việc khai khẩn buổi ban đầu vô cùng khó khăn, cực nhọc mà từng
          người, từng hộ gia đình khó có thể hoàn thành. Không chỉ là những cánh rừng
          hoang vu đầy cỏ dại, ‘muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh như bánh canh’ mà còn
          rất nhiều thú dữ như rắn rít, cọp, cá sấu ‘dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua’
          thường xuyên đe doạ đến tính mạng con người (Thêm, 2022, tr. 438). Chính
          vì vậy, nhu cầu hợp tác xuất hiện ngay từ đầu. Cùng với tinh thần đoàn kết,
          tương trợ lẫn nhau, vần đổi công trở thành nền tảng đạo đức, lối sống của
          những người đi khẩn hoang, lập xóm, lập làng. Người gặp nhau lần đầu cũng
          trở thành thân quen. Từ việc khai phá, cây trồng, cưới hỏi, ma chay, giỗ chạp
          đều làm cùng nhau, ai có gì thì đóng góp cái đó (chương 9). Những gia đình
          nông dân xưa thường rất đông con. Không phải vì không có điện, không có
          đường, không có nơi vui chơi giải trí mà vì vùng đất rộng – người thưa, tài
          nguyên thiên nhiên đầy đủ, nhu cầu lao động để khai thác đất đai luôn là vấn
          đề bức thiết đặt ra ở mỗi gia đình (Nam, 1973).

               4.5.2  Bài học cho tương lai
               Cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế nông nghiệp
          ở đồng bằng là tiến trình động, thích nghi với thiên nhiên và nhu cầu phát
          triển kinh tế - xã hội. Theo thời gian, về hình thức: Khẩn hoang → canh tác
          nông nghiệp dựa hoàn toàn vào tự nhiên → thâm canh bằng giải pháp công
          trình và kỹ thuật → dựa trên hệ sinh thái và thích nghi với thay đổi môi trường
          tự nhiên - kinh tế - xã hội. Về mục tiêu và giá trị: Tiêu thụ gia đình, có dư thì
          bán, giá trị thấp → bán, sản lượng, giá trị thấp → bán, chất lượng, nhiều chức
          năng, giá trị cao.


          102
   123   124   125   126   127   128   129   130   131   132   133