Page 132 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 132

(3) Phát triển môi trường thuận lợi để thúc đẩy ươm tạo công nghệ, kinh
          doanh nông nghiệp dựa trên hệ sinh thái và đổi mới sáng tạo để thu hút nguồn
          lực bên ngoài đầu tư vào đồng bằng, phát triển kinh tế nông nghiệp dựa trên
          dịch vụ hệ sinh thái;
               (4) Phát triển năng lực hợp tác xã kinh doanh nông nghiệp theo hướng

          sinh thái. Năng lực của hợp tác xã hiện nay đa số là yếu, chủ yếu làm dịch vụ
          đơn giản. Trong khi nông nghiệp theo hướng sinh thái, phát huy giá trị của hệ
          sinh thái gặp nhiều rủi ro, cần đầu tư về kỹ thuật và công nghệ, sản phẩm chất
          lượng cao cho phân khúc thị trường đặc biệt. Luật Hợp tác xã (2023) có nhiều
          điểm mới quan trọng. Việc sớm thể chế hoá Luật Hợp tác xã (2023) cho đối
          tượng liên quan đến chuỗi giá trị nông nghiệp hướng sinh thái để phát huy giá
          trị hệ sinh thái và phát triển cộng đồng địa phương là rất cần thiết.

               (5) Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn để nối hạ tầng đầu
          tư của chính phủ, thúc đẩy chuỗi cung ứng, hệ thống logistic nông sản hoạt
          động thông suốt và tăng lợi thế cạnh tranh.

               4.7  KẾT LUẬN

               Vùng ĐBSCL là đồng bằng trẻ, hệ sinh thái tự nhiên nhạy cảm với yếu
          tố tác động bên ngoài (biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thay đổi dòng chảy
          sông Mekong), và nội tại từ cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phát triển
          kinh tế - xã hội vùng. Cư dân của đồng bằng từ lúc đến định cư, khẩn hoang,
          phát triển sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của họ đã biết vận dụng và thích
          nghi với quy luật của tự nhiên. Khó khăn và thách thức là động lực cho đổi
          mới sáng tạo để thích nghi và phát triển. Theo tiến trình phát triển, cư dân
          đồng bằng đã phát triển hệ thống tri thức bản địa về cách sử dụng tài nguyên
          thiên nhiên bản địa, hình thành các kiểu canh tác nông nghiệp tồn tại hoặc
          làm nền tảng phát triển cho đến ngày nay.
               Tiến trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phát triển nông nghiệp ở
          đồng bằng theo quy luật dựa trên hệ sinh thái và thuận theo hệ sinh thái nhưng
          nâng cấp về khoa học - công nghệ và giá trị. Do đó, hệ thống tri thức bản địa
          kết hợp với khoa học - công nghệ giúp sử dụng tài nguyên thiên nhiên của
          vùng hợp lý hơn. Hệ sinh thái tự nhiên là tài sản vô giá của đồng bằng. Tính
          đa giá trị của hệ sinh thái cần được phát huy, đặc biệt đối với phát triển kinh
          tế nông nghiệp trong tương lai. Tăng cường năng lực nông dân, tổ chức nông
          dân và doanh nghiệp cũng như phát triển môi trường thuận lợi để thúc đẩy
          đổi mới sáng tạo cho phát triển nông nghiệp dựa trên hệ sinh thái là cần thiết.



          106
   127   128   129   130   131   132   133   134   135   136   137