Page 84 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 84
Đầu thế kỷ XX, trước nhu cầu phát triển đường vận chuyển giao và
thoát nước, khai khẩn tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên, chính quyền Pháp tiếp
tục xây dựng các tuyến kênh đào lớn khác như kênh Rạch Giá - Hà Tiên (năm
1926-1930) được xem là công trình quy mô nhất đại diện cho vùng tứ giác
Long Xuyên. Kênh được đào chạy song song với bờ biển, chiều dài 81 km,
3
sâu 3,5 – 3,8 m, khối lượng đào đắp 7,2 triệu m . Kênh chính được nối thông
với biển bằng 4 kênh nhánh, bề rộng mặt nước 28 m, để thoát nước ra biển
Tây. Từ kênh chính có 4 kênh phụ đi sâu vào vùng trũng để tiêu úng và phèn:
kênh Tri Tôn (31 km, hoàn tất năm 1928), kênh Ba Thê (40 km, hoàn tất năm
1930), kênh Hà Giang, kênh Tám Ngàn, đây cũng là đường chuyển vận quan
trọng các loại vật liệu và khoáng sản như: vôi, phốt phát, xi măng từ Hà Tiên
về Sài Gòn lúc bấy giờ (Oanh & Tâm, 2015). Tiến trình này được xem là một
kỳ công trong thời kỳ đó và trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều dự án thủy
lợi sau này. Việc xây dựng những kênh đào lớn như vậy giúp cải thiện đáng
kể lưu thông hàng hóa và kết nối các vùng, đồng thời tạo điều kiện phát triển
sản xuất lúa và khu dân cư.
Thời kỳ 1954-1975, vận tải đường thủy gặp nhiều khó khăn do chiến
tranh, song hệ thống sông ngòi được cải tạo và mở rộng phục vụ cho giao
thông và cả mục tiêu quân sự. Đáng chú ý là các cảng quốc tế được hiện đại
hóa, bên cạnh cảng Sài Gòn và Vũng Tàu, còn có cảng Cần Thơ và Rạch Giá
(Hải & Chương, 2023).
Hạ tầng giao thông thủy của vùng ĐBSCL hiện có hơn 2.500 cảng và
bến thủy nội địa, tạo nên mạng lưới giao thương rộng khắp, không chỉ trong
nước mà còn với các nước láng giềng như Campuchia. Các cảng lớn như cảng
Cần Thơ, cảng Mỹ Thới (An Giang) đóng vai trò quan trọng trong việc vận
chuyển hàng hóa nội địa và xuất khẩu ra quốc tế. Cảng Cần Thơ với vị trí
trung tâm và khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn được xem là trung tâm
logistics của vùng, hỗ trợ vận tải hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản như lúa
gạo, thủy sản, từ ĐBSCL đến các vùng khác và xuất khẩu (Bộ Công Thương,
2017). Từ thời kỳ khẩn hoang đầu thế kỷ XIX, hạ tầng giao thông thủy
ĐBSCL không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại mà còn hỗ trợ quá trình khai hoang,
canh tác nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội cho cả vùng. Với các thách
thức từ BĐKH, hệ thống này cần được đầu tư, nâng cấp để thích ứng và phát
triển bền vững. Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã và đang triển khai nhiều
dự án nâng cấp hạ tầng, xây dựng các tuyến kênh và hệ thống thoát nước hiện
đại để đảm bảo giao thông thủy không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn
có thể đối phó với các thách thức trong tương lai.
58

