Page 83 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 83

3.2  LỊCH  SỬ  HÌNH  THÀNH  VÀ  PHÁT  TRIỂN  HẠ  TẦNG
          GIAO THÔNG

               3.2.1  Hệ thống giao thông đường thủy
               Lịch sử hình thành và phát triển hạ tầng giao thông thủy vùng ĐBSCL
          là một hành trình dài, phản ánh sự thích ứng và sáng tạo không ngừng của cư
          dân với đặc thù thiên nhiên sông nước. Từ thế kỷ XVII, tiến trình di cư về
          phía Nam, cư dân đã khai khẩn thiên nhiên, tận dụng sông/rạch tự nhiên làm
          đường di chuyển chính. Vùng đất này từ lâu đã trở thành một trong những
          trung tâm giao thương nhộn nhịp nhất nhờ vào vị trí thuận lợi, nằm dọc sông
          Tiền, sông Hậu và kết nối ra biển Đông (Nam, 2024). Theo đó, thương cảng
          phồn thịnh đầu tiên của vùng là Hà Tiên, giao thương nông sản của Việt Nam
          và Campuchia với thương gia bên ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc.

               Hai kênh đầu tiên của vùng được đào vào đầu thế kỷ XIX là kênh Thoại
          Hà (Núi Sập) và kênh Vĩnh Tế (Nam, 2024, tr. 72-73). Mục tiêu của kênh là
          phát triển canh tác lúa và quốc phòng. Theo Nam (2024, tr. 75), “người khẩn
          hoang sau đó đào các kênh ngắn đổ ra kênh Thoại Hà và Vĩnh Tế (gọi là kênh
          cựa gà) để thoát nước, thăm ruộng và vận chuyển lúa”.
               Sau đó, khi Pháp chiếm Nam Kỳ, vùng ĐBSCL vẫn được coi là vùng
          đất chưa được khai khẩn, phát triển hạ tầng kênh và đường là cấp thiết để phục
          vụ khai thác thuộc địa: sản xuất lúa và xuất khẩu gạo. Pháp mở rộng giao thông
          thủy về phía Tây là cần thiết để khai thác vùng đất này. Bước ngoặt lịch sử
          quan trọng đầu tiên trong việc phát triển hạ tầng giao thông thủy của vùng đào
          kênh Chợ Gạo (dài khoảng 29 km) vào cuối thế kỷ XIX, nối liền sông Vàm
          Cỏ  với  sông  Tiền,  trở  thành  tuyến  giao  thông  huyết  mạch  nối  liền  vùng
          ĐBSCL với thành phố Hồ Chí Minh (Lý, 2005). Đây là tuyến đường thủy vô
          cùng quan trọng, giúp vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là gạo, từ vùng đồng
          bằng phì nhiêu này đến cảng Sài Gòn để xuất khẩu. Từ khi hoàn thành, kênh
          Chợ Gạo đã đóng vai trò lớn trong việc phát triển nông nghiệp và thương mại
          của vùng và đến nay vẫn là một trong những tuyến đường thủy nhộn nhịp.
          Ngoài ra, đây còn là một trong những công trình kênh đào lớn phục vụ các chủ
          điền Tây khẩn hoang sản xuất lúa, vận chuyển lúa gạo và Kênh xáng Xà No
          (1901 – 1903). Kênh được đào bằng máy xáng từ Sóc Xà No (Srok Snor, xóm
          có nhiều cây điên điển), nối rạch Cần Thơ (Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ)
          đến Vị Thanh, là một trong những tuyến giao thông thủy huyết mạch nối Cần
          Thơ – Hậu Giang – Kiên Giang – Bạc Liêu – Cà Mau mở ra một triển vọng
          mới trong việc hình thành vựa lúa ở Hậu Giang (Nam, 2024, tr. 291 & 293).



                                                                                 57
   78   79   80   81   82   83   84   85   86   87   88