Page 167 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 167
là quan trọng nhất cho sự phát triển cộng đồng (DFID, 2010). Bởi vì năng lực
này sẽ giúp cộng đồng thích ứng và phát triển với những thay đổi mới của bối
cảnh kinh tế xã hội và môi trường nơi cộng đồng tồn tại.
(iv) Xây dựng quan hệ xã hội: Phát triển cộng đồng cũng bao gồm việc
xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa các thành viên, tạo ra sự gắn kết và
hợp tác, nhất là mạng lưới, lòng tin và hành động tập thể (Prince, 2024). Mối
quan hệ không dừng ở giới hạn giữa các thành viên với nhau mà còn ở phạm
vi rộng hơn giữa các cộng đồng với nhau và giữa cộng đồng với các khách
thể bên ngoài.
(v) Công bằng và hòa nhập: Mục tiêu của phát triển cộng đồng là đảm
bảo mọi nhóm người, đặc biệt là những nhóm yếu thế đều có cơ hội bình đẳng
trong việc tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi từ sự phát triển chẳng hạn như
lập kế hoạch, sự tham gia (Fry et al., 2023).
6.3 KINH DOANH NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN: PHÁT
TRIỂN SẢN PHẨM BẢN ĐỊA
6.3.1 Định hướng phát triển kinh doanh nông nghiệp bền vững
Từ góc nhìn sinh thái nhân văn, phát triển bền vững đòi hỏi việc đồng
bộ hóa giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội. Giải pháp cần hướng đến
quản lý vững hệ sinh thái tự nhiên, xây dựng hạ tầng thân thiện với môi trường
và phát triển các mô hình kinh doanh nông nghiệp phát huy giá trị dịch vụ hệ
sinh thái, ít tác động xấu đến môi trường. Trong bối cảnh ĐBSCL, định hướng
phát triển kinh doanh nông nghiệp bền vững dựa trên sinh thái nhân văn cần
phải tôn trọng hệ sinh thái tự nhiên và nâng cao vai trò của cộng đồng. Trong
chương này, phát triển kinh doanh nông nghiệp bền vững được phân tích dựa
trên ba trụ cột chính: (i) sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, (ii) xây dựng
mô hình nông nghiệp thân thiện với môi trường, và (iii) tăng cường vai trò
cộng đồng trong chuỗi giá trị.
a. Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Đối với tài nguyên nước và đất, các mô hình khai thác cần có tính bền
vững và phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu của vùng:
- Quản lý nước theo hướng tổng hợp và tuần hoàn: Cần có giải pháp
kiểm soát việc khai thác nguồn nước ngọt, nước mặn và nước lợ dựa trên đặc
điểm từng vùng để vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất, vừa bảo vệ nguồn nước, tạo
ra sản phẩm nông nghiệp theo hướng sinh thái có giá trị cao. Ví dụ: mô hình
141

