Page 183 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 183

và hiểm họa thiên nhiên khác, nên có thể làm du lịch quanh năm với ít rủi ro
          thiên tai. Bên cạnh đó, hàng năm vào mùa mưa, nước theo dòng Mekong đổ
          về tạo ra “mùa nước nổi” từ tháng 8 đến tháng 11, là hiện tượng đặc trưng
          của sinh cảnh chỉ có ở ĐBSCL.
               7.2.5  Hệ sinh thái

               ĐBSCL có một hệ sinh thái ngập đặc trưng và đa dạng theo tiểu vùng
          địa lý và sinh thái phong phú. Hệ thực vật toàn vùng có gần 800 loài sống
          trong các thảm thực vật nước ngọt nội địa và ngập mặn (Tú và ctv., 2024).
          Trong đó thực vật ngập nước ngọt tiêu biểu là cây tràm, ngập mặn là cây đước
          và mắm, còn hệ động vật có 23 khoảng loài động vật có vú, 386 loài và phân
          loài chim, 35 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư; 850 loài cá ở lưu vực sông
          Mekong, có 87 loài đặc hữu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2022). Vườn quốc gia
          U Minh Thượng (Kiên Giang), U Minh Hạ, Mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau), Tràm
          Chim (Đồng Tháp), Láng Sen (Long An), Lung Ngọc Hoàng (Hậu Giang) và
          các sân chim là các hệ sinh thái có giá trị dịch vụ hệ sinh thái cao, bao gồm
          giá trị văn hóa – du lịch. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cạnh các khu bảo
          tồn ngập nước ngọt chủ yếu  trồng lúa, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản nước
          ngọt, còn cạnh các khu bảo tồn ngập nước mặn là nuôi trồng, đánh bắt thủy
          sản nước mặn (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2022).
               7.2.6  Loại hình sản xuất truyền thống

               a.  Lúa nước

               Lúa là loại cây trồng chính, nghề trồng lúa ở ĐBSCL có từ thời kỳ đầu
          lịch sử khai thác vùng vào khoảng đầu thế kỷ 19 (Nam, 2024) bắt đầu từ các
          tỉnh phía Bắc sông Hậu (ngoại trừ Đồng Tháp Mười) nơi có địa hình tương
          đối cao, có nước tưới, đất phù sa và ít bị úng, phèn (xem Chương 4). Hệ thống
          canh tác lúa mùa nổi trong mùa lũ ở tiểu vùng ngập lũ sâu và lúa mùa truyền
          thống ở tiểu vùng bị nhiễm mặn ven biển (xem phần 7.2.2) được xem như là
          kiểu nông nghiệp di sản, có giá trị văn hóa và phát triển du lịch sinh thái -
          nông nghiệp.
               Nguồn nhân lực phục vụ trồng lúa chiếm tỷ lệ lao động lớn nhất, đồng
          thời thu nhập chính của người dân trong vùng cũng phần lớn đến từ lúa – gạo.
          Tuy sản lượng qua các năm có xu hướng tăng cao, nhưng thu nhập của các
          hộ dân chuyên trồng lúa có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân, như  tăng
          vụ làm suy thoái đất dẫn đến phải mua nhiều phân bón, thuốc trừ sâu; giá
          nhân công tăng, giá bán không ổn. Theo dự báo thì nghề trồng lúa vẫn đóng



                                                                                157
   178   179   180   181   182   183   184   185   186   187   188