Page 155 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 155

điều kiện thương mại thuận lợi. Điều này cũng góp phần quan trọng vào việc
          tái cơ cấu chuỗi cung ứng khu vực sau khi đại dịch Covid-19 kết thúc, hỗ trợ
          quá trình phục hồi kinh tế.

               5.4.4  Thách thức
               Thứ nhất, ĐBSCL đang phải đối mặt với những thách thức của biến đổi
          khí hậu, dự báo đến năm 2100, 40% diện tích vùng sẽ nằm dưới mực nước
          biển. Việc phát triển nhanh chóng và mở rộng đô thị quá lớn mà không quan
          tâm đến ảnh hưởng của BĐKH (ngập lụt, xâm mặn... gây thiếu nước ngọt
          nghiêm trọng) (chương 1). Các đô thị và khu công nghiệp phát triển mở rộng,
          nhanh chóng và quá lớn sẽ tiêu tốn một lượng đất đai nông nghiệp màu mỡ.
          Với tình trạng này, một phần nguồn tài nguyên kinh tế chính của vùng có thể
          sẽ bị mất đi mãi mãi. Xâm mặn và ngập lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh
          quan sản xuất toàn vùng, đe dọa nghiêm trọng đến ngành nông nghiệp – vốn
          được xem là ngành cung cấp nguyên liệu, sản phẩm quan trọng cho công
          nghiệp chế biến chế tạo và ngành thương mại – dịch vụ tại ĐBSCL. Đồng
          thời, ĐBSCL cũng đã và đang phải đối mặt với các thách thức về di cư hoặc
          chảy máu chất xám, điều này gây ra những tác động không nhỏ đối với nguồn
          nhân lực chất lượng cao của vùng.
               Đồng thời, việc đầu tư diện rộng vào các hệ thống hạ tầng dành cho xe
          hơi tạo ra các không gian thiếu hiệu quả cho phát triển cân bằng và hướng tới
          tương lai (tái đầu tư vào hệ thống giao thông thủy, giao thông công cộng,
          đường sắt…). Tương lai bền vững dường như đang bị hi sinh cho những thu
          lợi trước mắt và nhanh chóng. Bên cạnh đó, sự hấp dẫn bởi các hạ tầng hiện
          đại (như mong muốn đầu tư sân bay ở các tỉnh...) lấy quá nhiều đất của lãnh
          thổ và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của vùng ĐBSCL trên thị trường
          nông - thủy sản.
               Thứ hai, các Hiệp định EVFTA, CPTPP hay RCEP vừa mang đến cơ
          hội nhưng cũng đem lại không ít thách thức, đặc biệt đối với những doanh
          nghiệp logistics nội địa có sức cạnh tranh không cao như: gia tăng áp lực cạnh
          tranh; việc giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước
          thành viên gia tăng, tạo sức ép cạnh tranh đối với thị trường trong nước; chi
          phí dịch vụ logistics hiện nay tại Việt Nam rất cao (tương đương 30 - 40%
          giá thành sản phẩm, trong khi ở các nước khác chỉ 15%) điều này giảm sức
          cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa. Trong đó, khi hiệp định RCEP có hiệu
          lực, doanh nghiệp logistics Việt Nam sẽ gặp phải áp lực cạnh tranh rất lớn từ
          các doanh nghiệp nước ngoài. Các nước đối tác lớn trong khu vực như Nhật



                                                                                129
   150   151   152   153   154   155   156   157   158   159   160