Page 154 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 154

trường lao động hiện đại. Điều này dẫn đến việc khó bắt kịp với các yêu cầu
          và cơ hội mới, hạn chế tiềm năng phát triển của bản thân và cả cộng đồng.

               5.4.3  Cơ hội
               Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm hoạch định, ban
          hành hệ thống chính sách phát triển bền vững vùng ĐBSCL trước những
          thách thức của bối cảnh, điều kiện phát triển mới. Nổi bật là Nghị quyết số
          120/NQ-CP, ngày 17-11-2017, của Chính phủ, “Về phát triển bền vững vùng
          đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”. Theo đó, Chính
          phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách để
          phát triển bền vững vùng ĐBSCL theo 4 lĩnh vực chính: năng lượng tái tạo
          và hiệu quả năng lượng, hạ tầng và kỹ thuật môi trường, nông nghiệp và nuôi
          trồng thủy sản, chế biến thực phẩm và các dịch vụ vận tải (logistics) liên
          quan. Nghị quyết là cột mốc mang tính đột phá, đánh dấu sự thay đổi từ cách
          tiếp cận mang tính phòng vệ thụ động với biến đổi khí hậu sang hướng tới
          mô hình “chủ động thích ứng với thiên nhiên”, bảo đảm mục tiêu phát triển
          bền vững trong “điều kiện bình thường mới”, thích ứng với biến đổi khí hậu
          (chương 1).

               Thứ hai, việc ký kết các hiệp định thương mại tự do mở ra nhiều cơ hội
          cho ngành công nghiệp – thương mại – dịch vụ mà trọng tâm là các ngành về
          thương mại và dịch vụ. Đây là cơ hội để vùng ĐBSCL đẩy mạnh sản xuất
          công nghiệp chế biến nông sản và xuất khẩu bền vững, hình thành nhu cầu sử
          dụng dịch vụ logistics. Đặc biệt, các sản phẩm nông sản của ĐBSCL đang
          nắm bắt cơ hội lớn nhờ ưu đãi thuế quan khi các hiệp định thương mại tự do
          (Free trade agreement - FTA) có hiệu lực. Những mặt hàng như thủy sản, trái
          cây, lúa gạo... đang trở thành đòn bẩy mạnh mẽ để ĐBSCL mở rộng xuất khẩu
          vào các thị trường mà Việt Nam đã ký kết FTA, nhất là khi thuế quan đối với
          nhiều sản phẩm sẽ được giảm xuống 0% hoặc theo lộ trình cụ thể. Trong khi
          Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và
          Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) tập trung vào việc mở
          cửa thị trường và cắt giảm thuế quan xuống mức 0% thì Hiệp định Đối tác
          Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) lại nhấn mạnh vai trò trung tâm của
          ASEAN, giúp thúc đẩy quá trình hội nhập thương mại và kết nối sản xuất, tạo
          ra không gian sản xuất chung với sự liên kết giữa các nền kinh tế lớn trong
          khu vực. Hiệp định RCEP vì thế sẽ đóng vai trò là mắt xích quan trọng, hỗ
          trợ các doanh nghiệp trong khu vực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu,
          góp phần xây dựng một cấu trúc thương mại mới trong khu vực, đồng thời
          thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa theo hướng tự do hóa thương mại và cải thiện

          128
   149   150   151   152   153   154   155   156   157   158   159