Page 148 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 148

Thứ tư, khuyến khích hiện đại hóa và chuyển đổi số.

               Theo VCCI & Fulbright (2023), việc áp dụng công nghệ và thúc đẩy
          chuyển đổi số trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ đã giúp cải thiện năng
          suất lao động và hiệu quả kinh doanh trong vùng. Các nền tảng thương mại
          điện tử và dịch vụ thanh toán điện tử cho phép người dân và doanh nghiệp
          nhỏ mở rộng thị trường, tiếp cận khách hàng ở xa mà không cần phải rời khỏi
          địa phương, tạo điều kiện cho người dân làm quen với các công nghệ hiện đại
          và thay đổi tư duy sản xuất và tiêu dùng.

               5.4  CÁC  VẤN  ĐỀ  TRONG  PHÁT  TRIỂN  KINH  TẾ  -  CÔNG
          NGHIỆP - DỊCH VỤ VÙNG

               5.4.1  Điểm mạnh
               a. Yếu tố tự nhiên - kinh tế

               Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng là cơ sở quan
          trọng cho phát triển kinh tế công nghiệp – thương mại – dịch vụ của vùng.
          Vùng ĐBSCL, so với các vùng khác ở Việt Nam, có lợi thế tương đối về tự
          nhiên cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là lúa, cây ăn trái và nuôi trồng
          thủy sản. Hàng năm, ĐBSCL đóng góp 40% giá trị sản xuất nông nghiệp, trên
          50% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 65% sản lượng thủy sản,
          70% sản lượng trái cây cho cả nước (Nghi, 2023). Được mệnh danh là “vựa
          lúa, vựa thủy sản và trái cây lớn” nhất trong khu vực. Điều này góp phần
          mạnh mẽ vào sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành
          thương mại – dịch vụ tại vùng ĐBSCL.

               Các khu công nghiệp chế biến chế tạo được phát triển tại ĐBSCL đang
          tập trung vào các lĩnh vực như chế biến thực phẩm, thủy sản và nông sản,
          phục vụ cả nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Song song đó, ngành công nghiệp
          cũng được hỗ trợ bởi các dịch vụ thương mại và logistics, đặc biệt là việc
          cung cấp các dịch vụ vận tải, bảo quản và xử lý hàng hóa xuất khẩu. Chỉ riêng
          với sản phẩm gạo và thủy sản chế biến xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu của
          hai mặt hàng này chiếm từ 75 đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản
          của cả nước (VCCI & Fulbright, 2022). Chính tiềm năng xuất khẩu nông thủy
          sản của vùng đã đặt ra nhu cầu cấp thiết đối với sự phát triển ngành dịch vụ
          logistics nhằm hướng đến phục vụ hàng nông thủy sản, với những dịch vụ
          logistics, đơn cử như dịch vụ kho lạnh, chiếu xạ, hấp nhiệt đối với mặt hàng
          trái cây để đảm bảo chất lượng hàng xuất khẩu cũng như hàng phẩm cho nhu
          cầu tiêu dùng nội địa.



          122
   143   144   145   146   147   148   149   150   151   152   153