Page 208 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 208

tự nhiên, cũng như sự tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc và tôn giáo sẽ góp
          phần vào sự thịnh vượng và phát triển bền vững của vùng ĐBSCL.

               Chương này nhằm phân tích yếu tố dân tộc và tôn giáo trong mối liên
          quan đến môi trường tự nhiên và lịch sử phát triển, đồng thời nhận ra những
          điểm mạnh và hạn chế liên quan đến dân tộc và tôn giáo trong bối cảnh mới
          liên quan đến thay đổi môi trường tự nhiên và hội nhập kinh tế - xã hội. Kết
          quả phân tích có ý nghĩa quan trọng góp phần phát huy tính phong phú và tích
          cực của đặc trưng văn hóa, đồng thời tạo ra một nền tảng hòa hợp dân tộc và
          tôn giáo trong việc ứng phó hiệu quả với những thách thức về môi trường và
          kinh tế-xã hội.

               8.2  DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO VÙNG ĐBSCL
               8.2.1  Dân tộc

               Thuật ngữ Dân tộc trong phạm vi nghiên cứu các dân tộc ĐBSCL được
          hiểu theo nghĩa hẹp Dân tộc = tộc người, là các nhóm người có những đặc
          trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng một cách bền
          vững theo tiến trình lịch sử. Từ cuối thế kỉ XIX đến nay ở ĐBSCL có nhiều
          thành phần tộc người sinh sống, trong đó, về cơ bản có bốn thành phần tộc
          người chủ yếu cư trú là: người Khmer, Kinh, Hoa và Chăm. Họ có mặt ở vùng
          này vào các thời điểm khác nhau do những biến động về mặt lịch sử. Người
          Khmer, là tộc người có mặt từ sớm trên vùng đất Nam Bộ nói chung và vùng
          ĐBSCL nói riêng. Người Khmer vùng ĐBSCL đến nay có 1.141.241 người,
          chiếm khoảng 6,7% dân số ĐBSCL (Tổng cục Thống kê, 2022). Người Kinh,
          từ cuối thế kỷ XVII bắt đầu quá trình Nam tiến, họ dần từng bước thiết lập
          nền tảng quản lý hành chính, quân sự trên vùng đất Nam Bộ. Người Kinh là
          thành phần tộc người chủ thể hiện nay với dân số hơn 15.963.218 người,
          chiếm hơn 92% dân số ĐBSCL (Tổng cục Thống kê, 2022), có mặt đông đúc
          ở tất cả các tỉnh thành vùng ĐBSCL và góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát
          triển kinh tế xã hội. Về người Hoa có sự di cư quy mô lớn xuất phát từ biến
          động chính trị xảy ra ở Trung Quốc nên năm 1679 một số quan lại Trần
          Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến đã di cư từ khu vực Nam
          Trung Hoa đến khu vực Nam Bộ và vùng ĐBSCL (Thêm, 2022, tr.554-555).
          Toàn vùng ĐBSCL số lượng người Hoa có khoảng 149.449 người, chiếm
          khoảng 1,1% dân số ĐBSCL (Tổng cục Thống kê, 2022). Người Chăm ở
          ĐBSCL theo Hồi giáo (hay còn được biết là Chăm Islam), họ có chung nguồn
          gốc với người Chăm khu vực Nam Trung Bộ. Do những biến động về mặt
          lịch sử và nhiều nguyên nhân khác nhau, từ khoảng thế kỉ XVII – XVIII người


          182
   203   204   205   206   207   208   209   210   211   212   213