Page 207 - Đặc trưng và đổi mới kinh tế - xã hội - văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới
P. 207

Chương 8

                              DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

                                                                   1*
                                                      Sơn Chanh Đa , Lý Quốc Đẳng  2
                                         1 Khoa Dự bị Dân tộc, Trường Đại học Cần Thơ
                           2 Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ
                                                            *
                                                           ( Email: scda@ctu.edu.vn)


               8.1  GIỚI THIỆU
               Dân tộc và tôn giáo ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có
          mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên và lịch sử phát triển của vùng.
          Sự đa dạng dân tộc và tôn giáo không chỉ là kết quả của quá trình di cư, định
          cư và giao lưu văn hóa, mà còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện sinh thái tự nhiên
          và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội (xem Chương 2). Vùng ĐBSCL được
          xem là vùng đất thấp và đa dạng hệ sinh thái tự nhiên, nhờ chế độ thủy văn
          sông Mekong và thủy triều từ biển (Tú & ctv., 2024). Nơi đây, các cộng đồng
          dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm từ lâu đã sinh sống dựa vào khai thác tài
          nguyên thiên nhiên và phát triển sản xuất nông nghiệp nhờ nguồn nước sông
          Mekong và thủy triều (Nam, 2024, tr.16-20). Đặc điểm môi trường sông nước
          đã ảnh hưởng đến cách các dân tộc định cư, lao động và hình thành lối sống
          văn hóa riêng biệt (Thêm, 2024, tr.673).

               Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở ĐBSCL là một yếu tố quan trọng tạo nên
          đặc trưng văn hóa và phát triển bền vững của vùng. Lịch sử hình thành và
          phát triển của vùng chịu ảnh hưởng lớn từ quá trình di cư của các dân tộc
          trong và ngoài nước (xem chương 2), tạo ra sự đa dạng văn hóa và tôn giáo.
          Đây là cơ hội và cũng là thách thức trong quản lý hài hòa các vấn đề xã hội -
          kinh tế - chính trị - môi trường.

               Yếu tố dân tộc và tôn giáo có sự tương tác lâu dài với môi trường tự
          nhiên và kinh tế-xã hội. Môi trường tự nhiên và khai thác tài nguyên thiên
          nhiên có ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế, tín ngưỡng tôn giáo của các dân
          tộc và ngược lại đặc điểm dân tộc và tôn giáo có tác động đến kiểu ứng xử
          với môi trường tự nhiên. Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo với môi trường
          tự nhiên và lịch sử phát triển là yếu tố quan trọng giúp định hình văn hóa, tín
          ngưỡng và lối sống của cư dân (Chăm, 2024). Hiện tại và tương lai, môi
          trường tự nhiên và kinh tế-xã hội thay đổi, khác với trước đây (xem chương
          1). Phát huy yếu tố dân tộc và tôn giáo, đảm bảo hài hòa giữa con người với


                                                                                181
   202   203   204   205   206   207   208   209   210   211   212